Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
ỐC BƯƠU VÀNG
Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011
Một số hoạt chất đặc trị Rầy Nâu
LUAGAO - Để phòng trừ rầy nâu (môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá) hãy chọn những loại thuốc đặc trị, sử dụng đúng và nên luân phiên thuốc, để tránh việc dùng 1-2 loại thuốc gây ra tình trạng lờn thuốc, kháng thuốc và kém hiệu quả.
Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010
Muỗi hành hại lúa và biện pháp phòng trừ
LUAGAO - Muỗi hành (sâu năn) hoạt động mạnh, giao phối và đẻ trứng về đêm, mỗi con cái có thể đẻ từ 100-200 trứng. Thời kỳ mạ muỗi hành đẻ rải rác trên các phiến lá ở gié, thời kỳ lúa đẻ nhánh chúng đẻ trên bẹ lá, cách mặt nước 30 cm. Trứng hình bầu dục dài, bề mặt trơn bóng, mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu đỏ tím. Nhộng của muỗi hành có thể di chuyển lên xuống trong ống hành. Nhộng có màu da cam, đỉnh đầu có một đôi gai, lúc sắp hoá nhộng muỗi hành chuyển lên trên ngọn chui nửa mình ra, lột vỏ nhộng để lại trên đầu ống hành. Sâu non có 3 tuổi, màu trắng sữa, dịch cơ thể màu hồng nhạt. Mặt bụng ngực trước có một mẩu cứng chẻ đôi. Muỗi hành phá hại lúa từ giai đoạn mạ đến giai đoạn cuối đẻ nhánh, khi bị tấn công đỉnh sinh trưởng biến dạng thành “cọng hành” (hay còn gọi ống hành). Khi ống hành đã vươn ra ngoài cũng là lúc sâu non đã hoá nhộng. Cần phân biệt triệu chứng thiệt hại do sâu đục thân và muỗi hành. Với sâu đục thân đọt lúa cuốn tròn có màu xanh lúc đầu, sau đó những đọt này héo khô, nắm kéo lên thì đứt ra ngay, đó là do sâu ăn phá đọt non làm dưỡng chất và nước không di chuyển lên nuôi đọt được. Với muỗi hành là những ống tròn màu xanh lá cây nhạt, đó là bẹ lá bị biến dạng, phiến lá chỉ là một mảnh nhỏ ở đầu ống, nắm kéo lên không đứt, những ống này không chết đi nhưng làm chồi bị nhiễm không trổ bông được, những bụi lúa bị nhiễm lùn, đâm nhiều chồi, lá xanh thẫm, ngắn, dựng đứng, có nhiều cọng lúa giống như cọng hành lẫn trong bụi lúa. Nhiệt độ ấm nóng và độ ẩm cao là điều kiện thích hợp cho muỗi hành phát sinh phát triển. Những năm mưa nhiều, có sương mù muỗi hành phát sinh phát triển mạnh; miền núi bị muỗi hành phá hại nặng hơn đồng bằng; ruộng lúa đủ nước bị phá hại nặng hơn ruộng hạn. Muỗi hành gây hại trong vụ mùa nặng hơn vụ xuân và mùa sớm nặng hơn mùa muộn. Bón phân không cân đối cũng là nguyên nhân để muỗi hành gây hại. (Theo Báo NNVN) Muỗi hành - Sâu năn (Rice stem gall midge)
| ||
Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010
Bệnh đốm vằn
LUAGAO - Trân trọng giới thiệu bài viết về "Bệnh Đốm Vằn" của Th.S Huỳnh Kim Ngọc - Công ty CP BVTV SAIGON đăng trên NNVN ngày 27/07/2010
1. Tầm quan trọng
Bệnh đốm vằn hay khô vằn, có nơi còn gọi là bệnh ung thư là bệnh thường gặp và quan trọng thứ hai trên lúa sau bệnh cháy lá. Mặc dù bệnh dễ nhận diện và có thuốc đặc trị, tuy nhiên nếu không phát hiện và phòng trị kịp thời hay phòng trị không đúng cách, năng suất có thể giảm đáng kể.
Khác với bệnh cháy lá (đạo ôn) gây hại trong điều kiện khí hậu nóng, lạnh xen kẽ, trời âm u, nhiều sương mù, nên thường xuất hiện và gây hại trong vụ đông – xuân. Bệnh đốm vằn ưa thời tiết nóng: 28 – 32 độ C, ẩm cao 96 – 100%, ít ánh sáng nên bệnh thường thấy xuất hiện trong vụ hè thu, vụ mùa.
2. Tác nhân gây hại
Bệnh đốm vằn do nấm sống trong đất: Rhizoctonia solani, ngoài lúa nấm còn gây hại trên rau cải, đậu, bắp, bầu bí, dưa, cà rốt, ớt… mầm bệnh lây lan qua nước tưới, đất mang mầm bệnh và tàn dư thực vật của cây trồng bị bệnh vụ trước.
Trên lúa, nếu dùng giống ngắn ngày, năng suất cao, ruộng sạ, cấy dầy, thiếu ánh sáng, bón thừa đạm, bón đạm muộn, bón không cân đối N-P-K, ẩm độ trên ruộng quá cao, ruộng vụ trước trồng bị bệnh đốm vằn, không dọn sạch rơm rạ, lúa chét, cỏ dại… bệnh đốm vằn dễ xảy ra trong vụ tiếp theo.
Khác với bệnh cháy lá, có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng và gây hại trên tất cả các bộ phận của lúa như lá, cổ lá, cổ bông, hạt, mặt khác vết bệnh dễ thấy nhờ đó dễ phòng trị kịp thời. Bệnh đốm vằn, trái lại, thường xảy ra vào giai đoạn lúa đẻ nhánh tối đa – làm đòng, trổ (khoảng 35 – 70 NSS), bệnh âm thầm tiến triển nơi bẹ lá tiếp giáp mực nước, do đó nếu đi thăm đồng mà không chịu khó lội xuống ruộng quan sát thì sẽ không phát hiện được bệnh, đến khi bệnh phát triển lên lá đòng (trổ nóc) mới phòng trị thì đã quá muộn.
Triệu chứng bệnh đốm vằn dễ nhân diện, lúc đầu bệnh xuất hiện ở bẹ lá giáp mực nước, vết bệnh có dạng đốm loang lổ như da beo, màu xanh xám, viền nâu, sũng nước, dần dần đốm bệnh ăn sâu vào bẹ lá làm bẹ lá vàng, khô chết dần, đồng thời bệnh còn ăn lan lên trên, một khi bệnh lan lên tới lá đòng (trổ nóc) thì năng suất có thể giảm tới 50%, hạt không đẹp, lúa bị lép, lửng, khi xay dễ bể.
Nếu quan sát kỹ trên vết bệnh già, ta sẽ thấy có những hạch nấm nhỏ màu nâu xám, cứng. Đây chính là những hạch khuẩn, các hạch khuẩn này sau đó sẽ rụng, rơi xuống nước lây lan qua bụi lúa bên cạnh hoặc nằm dưới đất, trong rơm rạ chờ vụ sau sẽ tiếp tục gây hại.
Bệnh đốm vằn thường xảy ra thành từng chòm trên ruộng nhất là những nơi lúa mọc quá dày, quá tốt (ở giữa ruộng hay ở gần cống bộng dẫn nước), do đó khi thăm đồng, bà con cần lưu ý các nơi này trước tiên.
3. Phòng, trị
Để phòng, trị bệnh đốm vằn cần áp dụng biện pháp tổng hợp như:
Dọn sạch rơm rạ, lúa chét, cỏ dại, tàn dư thực vật sau khi thu hoạch.
Không sạ, cấy quá dày, bón cân đối N-P-K, không bón thừa đạm, bón đạm muộn, nên tăng cường bón K vừa tăng tính chống chịu bệnh vừa hạn chế đổ ngã.
Không để ruộng quá ẩm, nước ngập quá sâu.
Thường xuyên thăm đồng, nhất là giai đoạn đòng - trổ, cần lội xuống ruộng để quan sát, chú ý nơi lúa mọc quá dày là nơi bệnh dễ xảy ra, cần vạch lúa và quan sát nơi gốc xem có bệnh hay không. Nếu có, phải lập tức ngưng bón đạm, ngưng phun phân bón lá có đạm và phải phun thuốc trừ bệnh ngay.
Sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị sau:
Carbenzim 50 WP, Carbenzim 500 FL: liều dùng 1,0 kg (0,5 L)/ha
Vanicide 3SL, 5SL: liều dùng 1,5 L (1,0 L)/ha.
Saizole 5SC: 1,0 L/ha.
Chú ý:
Khi phun cần phun kỹ, phun đẫm vào nơi có vết bệnh, cần phun đủ lượng nước khuyến cáo trên nhãn, hiệu quả phòng trị sẽ cao.
Nguồn: Báo NNVN
Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010
Phòng tránh bệnh bạc lá lúa
LUAGAO - Hỏi: Vụ mùa năm trước các ruộng lúa của gia đình tôi và nhiều bà con khác bị bệnh bạc lá gây hại nặng nhưng chưa biết cách phòng trừ. Xin quý báo cho biết kỹ hơn về bệnh này và cách phòng tránh, chữa trị?
(Nguyễn Thị Hải Đường - xã Hải Tây, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định)
Trả lời: Bệnh bạc lá lúa (BBL) do vi khuẩn Xanthomonas campestris Oryzae gây ra và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cây lúa. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm nên ở các tỉnh phía Bắc thường xuất hiện từ tháng 3 trở đi, gây hại ở cả 2 vụ lúa trong năm, trong đó nặng nhất là các trà lúa vụ mùa, đặc biệt vào các thời kỳ hay có giông, bão. Các giống lúa thuần, lúa lai Trung Quốc rất dễ bị nhiễm bệnh. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các mép lá, cháy dần từ đầu chóp xuống (nên còn gọi là bệnh cháy lá) làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây; nhẹ làm cây sinh trưởng, phát triển kém, còi cọc, đẻ nhánh yếu, giảm năng suất, bị nặng làm các lá bị cháy, đặc biệt cháy lá đòng làm cho hạt bị lép lửng, chất lượng gạo kém, giảm năng suất nghiêm trọng, từ 25 đến 50%, thậm chí gây thất thu hoàn toàn.
Nguyên nhân dẫn đến cây lúa bị BBL thường do thời tiết nóng ẩm, mưa gió lớn xẩy ra trong thời kỳ lúa cần quang hợp cao; do đất làm không được ngấu, cây lúa bị bệnh vàng lá sau tiết lập thu được bón thêm phân để cấp cứu vàng lá, cây lúa ra lớp rễ mới phát triển lá non khi gặp mưa dông dễ nhiễm BBL; bệnh rất mẫn cảm với lượng đạm dư thừa trong lá, do đó những ruộng bón nhiều, bón muộn, bón lai rai, bón không cân đối giữa đạm, lân và kali, những ruộng trũng hấu dồn đạm bón cuối vụ, chăm sóc, thâm canh không đúng kỹ thuật… đều làm cho cây lúa dễ mắc BBL.
Trong quá trình nhổ cấy, vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống dẫn nhựa của cây thông qua các vết thương cơ giới do bị đứt rễ hoặc lá lúa bị tổn thương. Vi khuẩn thường tụ tập thành những giọt keo đọng ở mép lá hoặc đuôi lá vào buổi chiều và dễ lây lan ra các cây lúa khỏe mạnh khác nhờ gió thổi đánh tan các giọt vi khuẩn này.
Biện pháp phòng tránh và chữa trị: Do chưa có thuốc đặc trị BBL, theo khuyến cáo của các nhà khoa học bà con cần chủ động áp dụng các biện pháp phòng tránh là chính, tập trung vào một số điểm sau đây:
1. Chọn các giống chống chịu tốt với BBL để bố trí mùa vụ cho thích hợp, đặc biệt là gieo cấy trong vụ mùa. Được biết, trong những năm gần đây Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội đã phối hợp với Công ty giống cây trồng Hải Dương nghiên cứu và sản xuất thành công một số giống lúa chống chịu hoặc kháng được BBL dựa trên công nghệ chuyển gen như các giống Bắc thơm số 7, Bắc ưu 253, HYT103, VL45, Syn 6. N.ưu 69, Bắc ưu 025 và một số giống khác được đưa vào cơ cấu gieo trồng trong tỉnh và khuyến cáo các địa phương khác sử dụng cho kết quả tốt.
2. Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh sau:
- Làm đất kỹ, đủ ngấu và bón vôi từ 15-20kg/sào Bắc bộ để tránh ngộ độc rễ nhiễm bệnh vàng lá khi lúa đang đẻ sau tiết lập thu.
- Cấy mạ đủ tuổi, bón phân cân đối NPK và phân tổng hợp NPK có hàm lượng kali cao. Chú ý bón nặng đầu, nhẹ cuối (bón lót sâu, bón thúc sớm hết lượng đạm và kali), nhất là các giống dễ nhiễm BBL, không bón kali giai đoạn lúa đứng cái vì cây lại huy động đạm lên dễ bị bạc lá. Với các giống chất lượng, nên cấy lùi thời vụ (25-30/7) để lúa trỗ sau 25/9 đến trước 5/10, sát tiết hàn lộ nhiệt độ giảm, thời tiết mát sẽ đỡ bị nhiễm bệnh hơn. Hoặc Cty CP Giống cây trồng miền Nam có giống lúa Bác ưu 903 KBL kháng bệnh bạc lá rất tốt...
- Phun thuốc phòng chống BBL ngay sau khi có đợt mưa dông lớn, khi trên ruộng chưa xuất hiện các vết bệnh trên lá bằng các loại thuốc: Staner 20WP, Xanthomix 20WP… vào sáng sớm hoặc chiều mát. Chỉ phun thuốc trừ bệnh khi thật cần thiết với một số loại thuốc như: Staner 20WP, Batuxit, Bactocide12WP, Kasumin… theo hướng dẫn của cán bộ ngành BVTV.
(Theo NNVN)
----------------------------
GIỚI THIỆU THUỐC BVTV PHÒNG TRỪ BẠC LÁ LÚA
HOẢ TIỄN 50SP - Hoạt chất: Chlorobromoisocyanuric Acid
Liều dùng: 0,5 kg/ha. Pha một gói thuốc 20g/ bình 16 lít. Phun 400 lít nước/ha
Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009
GIỚI THIỆU RẦY NÂU NHỎ - MỘT ĐỐI TƯỢNG SÂU MỚI ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG NGHIỆP

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2009
Diệt trừ ốc bươu vàng như thế nào cho hiệu quả
Mùa mưa ở các tỉnh Nam bộ đã bắt đầu, mới vào đầu mùa mưa mà lượng mưa ở nhiều nơi đã rất cao, khiến cho nước trên ruộng lúa khá nhiều, đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho ốc bươu vàng sinh sản, phát tán lây lan gây hại mạnh cho lúa hè thu ở đầu vụ.
Để hạn chế tác hại của ốc một cách chủ động bà con cần áp dụng kết hợp sớm và đồng bộ những biện pháp trong Quy trình quản lý tổng hợp ốc bươu vàng. Sau đây là một số biện pháp chính:
- Thu gom ốc và ổ trứng: Để hạn chế số lượng ốc ở đầu vụ, các bạn nên tổ chức đi thu gom ốc và ổ trứng trên đồng ruộng, xung quanh các ao hồ, kênh rạch công cộng… trước khi gieo sạ lúa.
- Đào rãnh thu gom ốc: Trước khi sạ cấy, các bạn nên đào các rãnh nhỏ xung quanh ruộng và những chỗ có nhiều nước trong ruộng để khi nước rút ốc sẽ tập trung vào những đường rãnh này, việc thu bắt chúng sẽ dễ dàng và đỡ tốn kém hơn.
- Dùng lưới chắn ốc: Nên dùng lưới nilon có lỗ nhỏ che chắn kỹ những chỗ có đường nước chảy tự nhiên từ ngoài kênh vào ruộng hoặc những chỗ nhong bơm nước vào ruộng để ngăn chặn ốc từ kênh mương vào ruộng lúa.
- Thả vịt vào ruộng ăn ốc: Trước khi xuống giống nếu có điều kiện các bạn nên thả vịt vào ruộng để vịt ăn những con ốc nhỏ mà trong lúc đi thu gom chúng ta đã bỏ sót. Khi cây lúa đã lớn nên thả vịt vào ruộng để vịt ăn ốc và một số loại sâu hại thường tập trung ở phần gốc của cây lúa.
- Tăng mật độ sạ cấy: Trước khi sạ nếu ruộng có nhiều ốc thì các bạn phải tăng lượng giống gieo sạ lên từ 5-10% so với những ruộng bình thường khác để trừ hao cây ốc ăn mất sau này. Nếu ruộng cấy thì nên cấy mạ hơi già hơn một chút và cấy nhiều tép.
- Giữ mực nước ruộng phù hợp: Khi cây lúa còn nhỏ dễ bị ốc gây hại, các bạn chỉ nên để mực nước ruộng sâu khoảng 2-3 phân để hạn chế bớt sự di chuyển của ốc sang nơi khác.
- Thu gom ốc và trứng ốc thường xuyên: Trong quá trình chăm sóc lúa, nếu thấy có ốc và ổ trứng thì thu gom ngay. Việc này các bạn nên làm thường xuyên để tạo thành thói quen.
- Cắm cọc nhử ốc đến đẻ trứng: Dùng cây, que cắm ở những chỗ có nhiều ốc tập trung “dụ” cho ốc leo lên đẻ rồi thu gom trứng để tiêu huỷ, kết hợp với việc thường xuyên thu gom trứng trên bờ cỏ và trên thân cây lúa (định kỳ khoảng 5-7 ngày/lần) trước khi trứng kịp nở ra ốc con rơi xuống nước phát tán đi.
- Dùng thuốc diệt ốc: Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào chúng ta đều có thể áp dụng hết tất cả những biện pháp trên, do đó ốc vẫn có cơ hội để tồn tại và phát triển. Những ruộng thường có mật số ốc cao, gây hại nhiều, các bạn có thể phun thuốc VINICLO 70WP, DIOTO 250EC vào giai đoạn trước hoặc ngay sau khi sạ giống, với liều lượng 250 gram thuốc pha với 400 lít nước phun cho một ha lúa. (Cụ thể là pha 5 gram thuốc cho một bình xít loại 8 lít, phun 5 bình cho một công ruộng (1.000m2). Chú ý: Khi phun thuốc ruộng phải có độ ẩm bão hoà hoặc xâm xấp nước (mực nước ruộng dưới 5 cm). Nhớ là không sử dụng thuốc này cho những ruộng có nuôi cá.
Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2009
Phòng trừ bệnh lem lép hạt lúa
Tác nhân gây bệnh
*Do nhện gié thường sống trong các bẹ lá lúa khi mật số cao chúng có thể bò lên trên bông lúa chích hút các gié lúa đang phát triển, các bông lúa bị hại thường mọc thẳng đứng và phần lớn số hạt đều bị lép.
*Do vi khuẩn Pseudomonas glumae (tên mới Bukhoderia glumae) làm thối đen hạt hoặc gây vết bệnh trên vỏ hạt.
*Do nấm là chủ yếu: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium sp, Curvularia lunata, Microdochium oryzae, Phoma sp, Pyricularia oryzae, Sarocladium oryzae, Septoria sp, Tilletia barclayana, Ustilagonoides virens.
*Thời kỳ cây lúa dễ mẫn cảm với bệnh là từ trổ bông đến chín sữa và rơi vào những tháng có nhiệt độ thấp ẩm độ không khí cao, lượng mưa lớn và số ngày mưa nhiều.
*Lem lép hạt làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt lúa, đồng thời tác hại vào vụ sau.
*Giống: Gieo cấy hạt giống ít mang mầm bệnh hoặc dùng giống lúa có xác nhận tuyệt đối, không lấy giống ở chân ruộng vụ trước bị lem lép nặng để gieo sạ lại. Trước khi ngâm ủ phơi khô rê sạch loại bỏ những hạt lép lửng, biến màu.
*Thời vụ: Gieo cấy lúa vào thời kỳ thích hợp để khi lúa trổ không trùng với thời kỳ mưa gió nhiều; khi lúa có đòng - trổ không để ruộng bị khô hạn.
*Phân bón: Bón phân đầy đủ và cân đối tuỳ theo giống lúa, điều kiện đất đai, mùa vụ của từng vùng. Có thể áp dụng phương pháp bón phân theo màu lá lúa dựa vào bảng so màu hoặc bón phân đón đòng theo kỹ thuật “Không ngày, Không số".
*Sâu bệnh: Phòng trừ tốt các loại sâu bệnh phát sinh vào giai đoạn đòng - trổ là sẽ giảm bệnh lem lép hạt.
*Cỏ dại: Cỏ dại ký chủ của nhiều nấm gây bệnh trên lá và hạt lúa. Cần phòng trừ cỏ trong ruộng cũng như trên bờ ruộng.
Những điều cần lưu ý để sử dụng thuốc hóa học đạt hiệu quả cao:
*Xử lý hạt giống trước khi gieo sạ:
- Biện pháp này rất có hiệu quả và kinh tế nhất mà chúng ta thường không chú ý.
- Pha Dibavil 50FL nồng độ 3‰ cho hạt lúa giống đã phơi khô rê sạch vào ngâm 24 – 36 giờ vớt ra rửa sạch bằng nước trong sau đó ủ bình thường.
- Xử lý hạt giống giúp phòng ngừa ngoài bệnh lem lép hạt còn thêm các bệnh khác như lúa von, đạo ôn lá, vàng lá chín sớm…
- Nên chọn thuốc trừ bệnh phổ rộng để phun như: Dibavil 50FL, Dibazol 5SC, Tiên Sa 250EC, Matador 750WG, Tiên Super 300EC. Liều lượng các loại thuốc đã có ghi ở nhãn bao bì.
- Thời điểm phun là rất quan trọng. Nên phun phòng là chính nếu để bệnh đã xâm nhập vào hạt lúa rồi thì rất khó có kết quả tốt. Phun hai lần vào thời kỳ lúa bắt đầu trổ và trổ đều để hạn chế các loại nấm phát triển trên vỏ hạt lúa. Chú ý nếu phun thuốc muộn khi lúa vào mẩy hoặc chín sữa thì hiệu lực thuốc không cao. Phun thuốc vào giai đoạn đòng trổ này còn phòng trừ được các bệnh khác như đốm vằn, vàng lá chín sớm, đạo ôn cổ bông, thối bẹ lá đòng.
Thứ Ba, 21 tháng 4, 2009
Phòng trừ côn trùng gây hại bằng nấm bệnh
Trong ruộng lúa có nhiều loài vi sinh vật khác nhau có thể gây bệnh và tiêu diệt sâu hại lúa. Các nhóm này chủ yếu là nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và một số vi sinh vật khác cũng có thể gây bệnh cho sâu hại. Xin giới thiệu một số nấm bệnh phổ biến và có ích nhất trên đồng ruộng.
1. Nấm Metarhizium anisopliae:
Nấm Metarhizium gây hại cho bọ rầy, bọ xít và bọ rùa. Bào tử nấm rơi trên cơ thể côn trùng và khi độ ẩm cao kéo dài, bào tử nấm nảy mầm và mọc vào trong cơ thể côn trùng. Nấm phát triển bên trong cơ thể côn trùng ký chủ và ăn chất bổ của cơ thể côn trùng. Khi côn trùng chết, nấm xuất hiện lúc đầu thành một lớp trắng ở những chỗ nối giữa các đốt ở cơ thể côn trùng. Ví dụ như trên thân bọ xít khi hình thành bào tử, nếu là nấm M.Flavovirde sẽ có màu xanh lục nhạt, còn nếu là nấm M.anisoplae chúng sẽ chuyển thành màu xanh lục đậm. Bào tử xuất hiện từ ký chủ đã chết sang ký chủ mới qua gió hoặc nước.
2. Nấm Beauveria bassiana:
Nấm này là một loại nấm trắng gây bệnh cho rầy thân, rầy lá, sâu đục thân, sâu cuốn lá, bọ xít hại lúa và bọ xít đen. Chúng có ở tất cả các môi trường trồng lúa. Cũng giống như các bệnh nấm khác, chúng đòi hỏi phải có độ ẩm cao, kéo dài để các bào tử lây lan nhờ gió và nước nảy mầm. Nấm hủy hoại các mô mềm và dịch cơ thể của ký chủ và khi chuẩn bị hình thành bào tử phát tán, chúng phát triển ra bên ngoài ký chủ. Bào tử có màu phấn trắng như ở trên thân rầy nâu hoặc bọ xít hại lúa.
3. Bệnh nấm tua (Hirsutella):
Nấm tua là loài nấm gây bệnh trên bọ rầy thân và bọ rầy lá. Sau khi nấm xâm nhập cơ thể ký chủ và tiêu thụ các mô bên trong, chúng mọc ra ngoài tạo thành các sợi dài, lúc đầu màu trắng bẩn rồi chuyển thành màu ghi. Những sợi nấm sản xuất ra các bào tử phát tán và gây bệnh.
4. Bệnh nấm bột (Nomuraca):
Nấm hột là loài nấm trắng, bào tử có màu xanh lục nhạt. Chúng gây bệnh cho sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu keo và sâu phao. Khi mới bị nhiễm, sâu bị bệnh trở nên có màu trắng. Sau một vài ngày bào tử hình thành và sâu chuyển thành màu xanh lục nhạt.
5. Bệnh virus nhân (NPV):
Virus NPV thường xuất hiện ở sâu keo và sâu khoang. Sâu non bị bệnh do ăn lá bị nhiễm virus. Khi virus đã lan ra khắp cơ thể sâu non, ký chủ trở nên chậm chạp và ngừng ăn. Sau đó sâu non chuyển thành màu trắng rồi màu đen, treo ở lá và chỉ còn các chân dính trên lá. Dung dịch mang bệnh ở cơ thể sâu non sẽ làm ô nhiễm phần lá chỗ sâu chết và tiếp tục truyền bệnh.
6. Virus viên:
Virus viên gây bệnh ở bướm đêm và bướm ngày. Cũng giống như nấm NPV, sâu non ăn lá bị nhiễm bệnh sẽ bò chậm chạp, sau đó bỏ ăn. Sau 1-2 tuần thân sâu non thắt lại, bề ngoài như có đốt giống sâu đo nâu. Sâu bị nhiễm bệnh chuyển màu vàng, hồng và đen mềm nhũn.
Các loại nấm bệnh trên sâu hại cây trồng có thể sản xuất được hàng loạt với giá rẻ dưới dạng lỏng hoặc bột và có thể phun như các loại thuốc trừ sâu bệnh thông thường.
Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2009
Nông dân tự chế thuốc trừ sâu rầy
- Nông dân Nguyễn Hữu Công, ấp Phụng Sơn, xã Song Phụng, huyện Long Phú (Sóc Trăng) tự nguyện học và làm theo cách làm này đạt hiệu quả kể: “Thật ra từ mấy năm trước nghe bà con nông dân đã thử phun thuốc sinh học hiệu quả, tôi đã muốn làm theo. Thế rồi vào một chiều nọ do tình cờ xem ti vi thấy cán bộ kỹ thuật nông nghiệp Sóc Trăng chỉ dẫn bà con cách làm, tôi tìm tới chi cục BVTV tỉnh học trong 10 ngày, rồi mua sắm vật dụng về làm tại nhà. Sau 10 ngày sau khi cấy nấm chuyển màu xanh cũng là lúc lúa được 10 ngày, phát hiện có RN mật số 5-10 con/m2. Tôi bèn pha thuốc phun ngay. Thú thiệt lúc đầu phun thuốc 2 bình thấy hơi chán so với trước kia phun thuốc hoá học (rầy chết ngay). Nhưng phải nói tới lần thứ 3, lúa được 23 ngày, tôi thấy RN bị nhiễm nấm trắng, bị chết. Tôi mừng quá đem khoe với bà con và tôi tới phòng kỹ thuật chi cục BVTV xin nấm về để cấy và phun thêm”.
- Từ mô hình nông dân tự cấy nấm trừ sâu rầy, hiện nay nông dân ở một số địa phương tỉnh Sóc Trăng đã tiến thêm một bước là hình thành những nhóm nông dân có sự phân công và chia sẻ kỹ thuật trong cách nuôi cấy nấm để phân phối trong cộng đồng. Theo cách “thương mại hoá” này, giá cả dễ chấp nhận nên được nông dân đồng thuận. Ông Bùi Thanh Toàn, nông dân ấp Tân Hội, xã Tân Thạnh, huyện Long Phú (Sóc Trăng) là người nhân nuôi nấm trong nhóm cộng đồng nói: “Theo yêu cầu của bà con hơn 50 hộ nông dân trong nhóm, tôi nhân cấy nấm đáp ứng đủ cho 40 ha lúa. Trong vụ lúa ĐX vừa qua trong xã Tân Thạnh nhờ có nhiều nhóm nông dân phun xịt thuốc nấm ký sinh này nên mật số RN luôn ở mức thấp. Thấy vậy, các xã lân cận hiện có hơn 200 nông dân đang yêu cầu giúp làm mô hình điểm để nhân rộng ra từ cách làm này.
- Quá trình ứng dụng thuốc vi nấm từ nấm ký sinh (Metarhizium anisopliae & Beauveria bassiana) phòng trừ RN trong thâm canh lúa chất lượng cao ở Sóc Trăng bắt đầu từ những năm 2003-2008 và đến nay vẫn còn tiếp tục. Từ 12 mô hình ứng dụng đầu tiên thực hiện trên 48ha (4ha/mô hình) tại 2 huyện Mỹ Xuyên và Thạnh Trị, TS Nguyễn Thị Lộc – cán bộ Viện lúa ĐBSCL kết luận, mô hình đã giảm được chi phí và tăng thu nhập cho nông dân, đặc biệt ứng dụng chế phẩm sinh học giúp bảo vệ môi rường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các mô hình lúa-cá, lúa-tôm tại tỉnh Sóc Trăng và các tỉnh ĐBSCL. Trong giai đoạn này nông dân mới làm quen với nấm ký sinh.
+ Theo PGS. TS Trần Văn Hai, qui trình sản xuất chế phẩm nấm xanh Metarhiziium anisopliae (Ma) chuyển giao trong điều kiện nông hộ như sau: ngâm gạo với nước trong 1 giờ, cho vào bọc nylon (0,5kg/bọc), sau đó hấp thanh trùng bằng nồi nhôm trong khoảng 1-1,5 giờ (đun bằng than đá hoặc củi), cấy nấm gốc Ma (giống cấp 1) vào từng bọc, lấy 1/6 đĩa petri (đường kính 9,5cm), đem ủ trong điều kiện nhiệt độ từ 28-30oC và lắc lọc chế phẩm 1 lần/ngày. Sau 10-14 ngày nuôi cấy chế phẩm có thể dùng được như đem cấy truyền tạo và đem phun xịt; dùng 5 bọc (2,5kg)/ha là đủ.
+ Dùng chế phẩm nấm xanh Ma, mật số RN giảm nhanh chóng sau 7 ngày phun xịt và tiếp tục giảm dần đến 28 ngày sau khi phun. Hiệu lực của chế phẩm trên các loại sâu gây hại khác như sâu cuốn lá, sâu keo, sâu đeo, sâu đo…
- Nhưng phải nói trong năm 2006-2008, được Dự án Nâng cao chất lượng cây trồng-vật nuôi tỉnh Sóc Trăng do CIDA Canada tài trợ, dù trong tình hình dịch RN, bệnh VL-LXL phát sinh lây lan trong toàn khu vực, tỉnh Sóc Trăng vẫn kiên trì thực hiện mở rộng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học trên lúa mùa, lúa thơm ST3, ST5, ST10 ở các huyện Mỹ Xuyên, Kế Sách, Mỹ Tú, Long Phú, Thạnh Trị, Ngã Năm. Kết quả nông dân tin vào biện pháp này đạt hiệu quả, nhất là nơi thực hiện mô hình lúa-tôm giữ gìn môi trường tốt vì không phải dùng thuốc trừ sâu hóa học.
- Từ tháng 8/2008 đến nay là dấu mốc đánh dấu chuyển giao qui trình cấy nấm trừ côn trùng hại cây trồng cho nông hộ tự làm. Bộ môn BVTV trường ĐHCT là đơn vị nghiên cứu xây dựng qui trình và chuyển giao nhân nuôi nấm ký sinh phòng trừ sâu rầy hại lúa và cung cấp giống đầu dòng tại 6 huyện trong tỉnh Sóc Trăng. KS Hồ Quang Cua, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Sóc Trăng nhận xét: “Qui trình sản xuất nấm tại nông hộ được đa số nông dân đồng tình và cho biết dễ làm. Qua thực tế dùng biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại trên đồng ruộng được nhiều nông dân xác nhận hiệu quả. Chi phí phòng trừ RN bằng nấm xanh bình quân 100.000đ/ha/lần, trong khi ruộng lúa phun thuốc hóa học biến động 200.000đ đến 1 triệu đồng/ha/lần. Việc xã hội hóa trong phòng trừ dịch hại bằng sinh học sẽ góp phần tạo sự chuyển biến nhận thức từ thuốc hóa học sang thuốc sinh học”.
Qua mô hình dùng chế phẩm sinh học quản lý kiểm soát RN, TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV nhớ lại: “Hồi lúc dịch RN bùng phát dữ dội, Bộ NN&PTNT phân công tôi làm thành viên trong Ban phòng chống RN - bệnhVL, LXL. Đi dọc theo các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL rồi sang nước bạn Campuchia, đâu đâu tôi cũng thấy lúa nhiễm rầy rất nặng, nhưng ở Thái Lan thì không. Những đồng nghiệp ngành BVTV ở Thái Lan nói nhờ dùng nấm ký sinh và cách làm này được chuyển giao tới nông dân. Tôi xuống xem thực tế ở nhiều địa phương, quả thật có nơi 150.000ha lúa an toàn nhờ biện pháp phòng trừ sinh học này. Hiện thời ở Sóc Trăng chỉ trong một thời gian ngắn, kết quả cho thấy mô hình triển khai rất nhanh và kết quả thu được rất thuyết phục. Làm như nông dân Sóc Trăng thì nông dân nơi khác cũng làm được”.
Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2009
CHUYÊN ĐỀ RẦY NÂU
(Tổng hợp)
BÀI 01: RẦY NÂU
- Rầy trưởng thành cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa và đẻ trứng trên các bẹ lá hoặc ở các gân lá. Trứng xếp hình nải chuối. Rầy non tuổi 1 có màu trắng, các tuổi sau có màu vàng nâu.(5 tuổi)
- Rầy trưởng thành có hai loại: cánh dài và cánh ngắn. Rầy trưởng thành cánh ngắn xuất hiện phổ biến trước lúc trổ bông, rầy cánh dài thường xuất hiện vào giai đoạn lúa chín và di chuyển, phát tán.
2. Vòng đời rầy nâu:
- Vòng đời của rầy nâu từ 25 – 28 ngày, trong điều kiện nhiệt độ 25 – 300C.
3. Đặc điểm gây hại
3.1. Tác hại trực tiếp: rầy cám và rầy trưởng thành cánh dài hoặc cánh ngắn đều chích hút nhựa cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số cao. Rầy nâu gia tăng mật số nhanh và cao (bột phát) gây hại nặng cho cây lúa khi:
- Trồng lúa liên tục trong năm
- Dùng giống nhiễm rầy
- Gieo sạ mật độ dày
- Bón dư thừa phân đạm,
- Phun thuốc trừ sâu không đúng cách (trộn nhiều loại thuốc, phun nhiều lần…).
3.2. Tác hại gián tiếp: là môi giới truyền vi rút gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa.
4. Đặc điểm truyền bệnh
- Rầy nâu chích hút nhựa cây lúa bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá rồi mang mầm bệnh vi rút này trong cơ thể để truyền sang cho cây lúa khoẻ mạnh khi chúng đến chích hút cây lúa đó.
- Rầy nâu mang mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết.
- Cây lúa càng non càng dễ bị nhiễm bệnh, về sau có thể không trổ bông được, năng suất giảm nghiêm trọng hoặc mất trắng. Cây lúa già bị nhiễm bệnh thì năng suất bị giảm ít hơn.
" Tóm lại, rầy nâu chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh (lúa bị bệnh, lúa chét bị bệnh, cỏ bị bệnh) tồn tại trên đồng ruộng.
5. Phòng trừ rầy nâu truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa
5.1. Các biện pháp phòng
- Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm thời gian cách ly giữa hai vụ lúa ít nhất 20 – 30 ngày, không để vụ lúa chét. Theo sự phân vùng của ngành nông nghiệp, thời vụ trong cùng một vùng phải tập trung, không được gieo sạ kéo dài;
- Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày,trục kỹ trước khi gieo sạ, dọn sạch cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước
- Sử dụng giống lúa kháng rầy, lúa giống có chất lượng tốt, không lấy lúa thịt làm lúa giống; nếu điều kiện có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống.
- Không gieo sạ quá dày trên 120 kg giống/ ha
- Gieo sạ lúa vào thời gian có thể né rầy: thường mỗi tháng có một đợt rầy vào đèn rộ kéo dài từ 5 – 7 ngày; để né rầy thì gieo sạ ngay sau đỉnh cao rầy vào đèn. Như vậy, khi lúa non sẽ tránh được rầy trưởng thành truyền bệnh.
- Để bảo vệ cây lúa non, sau khi sạ nên cho nước vào ruộng và duy trì mực nước thích hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.
- Không bón quá thừa phân đạm (urê); tăng lượng phân lân và phân kali để nâng cao sức chống chịu đối với bệnh.
- Thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sự xuất hiện của rầy nâu trên cây lúa (phải vạch gốc lúa để xem).
5.2. Biện pháp trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật để dập dịch
Khi phát hiện có rầy trên lúa thì phun xịt thuốc bảo vệ thực vật để diệt rầy.
- Giai đoạn lúa từ sau gieo sạ đến 20 ngày: nếu phát hiện rầy nâu xuất hiện thì phun thuốc diệt trừ bằng các loại thuốc phù hợp
- Giai đoạn từ sau 20 ngày đến trổ - chín: Giai đoạn này, nếu phát hiện rầy nâu với mật số từ 3 con/dảnh trở lên thì phun xịt thuốc trừ rầy. Khi phun xịt thuốc trừ rầy phải theo “4 đúng” gồm:
+ Đúng loại thuốc: theo khuyến cáo của cơ quan bảo vệ thực vật địa phương và tham khảo ở phần Phụ lục, không pha trộn nhiều lọai thuốc để phun;
+ Đúng liều lượng: pha thuốc theo đúng liều lượng và phun đủ lượng nước thuốc pha theo hướng dẫn ghi trên nhãn bao bì của mỗi loại thuốc;
+ Đúng lúc: khi phát hiện rầy cám ở tuổi 1-3, hoặc rầy trưởng thành chiếm đa số trong ruộng
+ Đúng cách: hướng vòi phun vào sát gốc lúa nơi rầy bu; không được phun trên ngọn lá lúa. Trước khi phun thuốc nếu có điều kiện nên cho nước ngập ruộng để rầy di chuyển lên cao, xịt dễ trúng rầy hơn.
6. Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ rầy nâu phổ biến
6.1. Hoạt chất Buprofezin
- Nhóm điều tiết sinh trưởng côn trùng
- Nhóm độc III (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, xông hơi yếu không lưu dẫn.
- Thuốc kiềm hãm tổng hợp Chitin, cản trở quá trình lột xác của rầy non, làm rầy non bị chết. Thuốc không diệt được rầy trưởng thành nhưng làm hạn chế khả năng đẻ trứng của chúng. Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm (sau 2-3 ngày khi rầy non lột xác mới chết nhưng thời gian duy trì hiệu lực kéo dài).
- Lượng dùng:
+ Thuốc ở dạng 10 WP hoặc 10 BTN dùng 1,0 - 1,2 kg/ha pha trong 400 L nước
+ Thuốc ở dạng 25 WP dùng 0,6 kg/ha pha trong 400 L nước.
Chú ý : Phun thuốc khi rầy non mới nở, rầy tuổi còn nhỏ. Khả năng hỗn hợp: Hoạt chất nầy cũng có thể hỗn hợp với các hoạt chất khác như Fenobucarb, Isoprocarb để giúp tác động của thuốc thể hiện nhanh hơn.
6.2. Hoạt chất Fenobucarb
- Nhóm Carbamate
- Nhóm độc II (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, không lưu dẫn.
- Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành, không diệt trứng.
- Liều lượng sử dụng: 1,5 - 2,0 L/ha, pha trong 400 L nước
6.3. Hoạt chất Isoprocarb
- Nhóm Carbamate
- Nhóm độc II (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc có tính xông hơi nhẹ, phổ tác động tương đối hẹp.
- Lượng dùng:
+ Thuốc dạng 20 EC dùng 1,5-2,0 L/ha pha trong 400 L nước.
+ Thuốc dạng 25WP dùng 1,5-2,0 kg /ha pha trong 400 L nước.
+ Thuốc dạng 50WP dùng 0,7-1,0 kg/ha pha trong 400 L nước.
6.4. Hoạt chất Imidacloprid
- Nhóm Neonicotionoid
- Nhóm độc II (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn. Khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh chóng và có tính hướng ngọn.
- Thuốc diệt trừ nhanh rầy non và rầy trưởng thành.
- Lượng dùng:
+ Thuốc dạng 100 SL dùng 0,4- 0,5 L/ha pha trong 400 L nuớc.
+ Thuốc dạng 10 WP, 100 WP dùng 0,4- 0,5 kg/ha pha trong 400 L nước.
+ Thuốc ở dạng 700 WG dùng 40 g/ pha trong 400 L nước
6.5. Hoạt chất Thiamethoxam
- Nhóm Neonicotionoid
- Nhóm độc III (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn. Khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh vào cây và có tính hướng ngọn.
- Thuốc diệt trừ nhanh rầy non và rầy trưởng thành.
- Liều lượng sử dụng:
+ Dạng 25 WG dùng 80 g/ha pha trong 400 L nước.
6.6. Hoạt chất Etofenprox
- Nhóm Pyrethroid không este
- Nhóm độc III (WHO)
- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, tác động đến thần kinh côn trùng, gây chết nhanh.
- Liều lượng sử dụng 0,75-1,0 L /ha pha trong 400 L nước.
********
BÀI 02: CHẾ PHẨM SINH HỌC TRỊ RẦY NÂU VÀ PHỤC HỒI THIÊN ĐỊCH
So với các loại thuốc hoá học như Karate, Trebon... ROT 1,5EC có hiệu lực bằng 74- 84% sau một ngày xịt và 83- 91% sau 3 ngày xịt, nhưng chỉ còn 50% ở ngày thứ 10. Như vậy, nên xịt ROT 1,5EC ít nhất 5-7 ngày/lần.
Đối với các loài rầy, ROT 1,5EC có tác dụng mạnh hơn Bt 72,5 lần từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 10 xịt thuốc. Đối với sâu cuốn lá, ROT 1,5EC có hiệu lực tương đương với Karate và Trebon.
Sau 10 ngày xịt ROT 1,5EC, thiên địch trên đồng ruộng phục hồi 75% so với Bt chỉ phục hồi 26,7% (trong khi các loại thuốc hoá học thì thiên địch rất khó phục hồi do tính lưu tồn cao của hoá chất). Các loại thiên địch trên lúa là bọ xít hôi, bọ xít mù xanh, nhện, kiến ba khoang, bọ rùa, ong ký sinh...
ROT 1,5EC có tác dụng mạnh nhất với rầy và sâu cuốn lá từ 1- 3 ngày sau xịt, diệt được 65- 68% sâu cuốn lá, 75% rầy, thiên địch phục hồi nhanh. ROT 1,5EC còn giúp tăng năng suất lúa và an toàn với môi trường.
(Theo: Báo Nông thôn ngày nay)
********
BÀI 03: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BIẾT VỀ QUẢN LÝ RẦY NÂU HẠI LÚA
Câu 01: Mật độ rầy trên ruộng bao nhiêu thì cần phun xịt thuốc? Vì sao cần phun thuốc trừ rầy ở tuổi 2 và tuổi 3. Cách nhận dạng rầy ở độ tuổi này?
Hiện nay có một số vùng trồng lúa mùa có phẩm chất gạo ngon để xuất khẩu như các vùng xung quanh TPHCM, Long An. Các giống lúa mùa không có gien kháng rầy nên rầy nâu phát triển, thường lúa mùa sẽ chín trước hoặc ngay sau tết nên thức ăn của rầy sẽ hết và rầy sẽ đi tìm thức ăn khác. Rầy nâu có khả năng di cư rất xa hàng ngàn cây số, nên khoảng trước hay sau tết khi có gió bấc thổi theo hướng từ các tỉnh miền trên xuống các tỉnh ở ĐBSCL sẽ đưa rầy nâu theo, và nó có khả năng mang virus truyền bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá hay bệnh vàng lùn cho lúa đông xuân.
Vòng đời của rầy nâu rất ngắn, chỉ khoảng một tháng, giai đoạn trứng khoảng 6-7 ngày sẽ nở ra rầy non và trứng này nằm trong bẹ lúa rất khó thấy. Khi trứng nở rầy non gọi là rầy cám thời gian phát triển trong vòng 2 tuần lễ tùy theo giống lúa đó nhiễm rầy hay kháng rầy. Vòng đời rầy cám có 5 tuổi, trong đó ở tuổi 2, tuổi 3 nó ăn mạnh nhất, mật số rất cao và chích hút cây lúa rất mạnh nên bà con thường trị rầy ở tuổi nầy. Sau đó con rầy trưởng thành và trong vòng 1 tuần sau nó có thể bắt cặp và đẻ trứng trở lại.
Thời điểm phun thuốc trừ rầy tùy thuộc vào:
- Giống lúa: giống lúa có mang gien kháng rầy thì rầy phát triển thấp, giống lúa không có mang gien kháng rầy như lúa mùa hay một số giống lúa có phẩm chất gạo ngon thì rầy có khả năng phát triển rất nhanh.
- Thời gian sinh trưởng của rầy: nếu rầy non mật số còn thấp và chế độ dinh dưỡng trong cây lúa không cao lắm thì rầy có thể phát triển nhưng chậm. Trường hợp rầy tấn công vào cây lúa vào giai đoạn ngậm đòng, trổ và đang ngậm sữa có nghĩa là thời gian mà tất cả các dưỡng liệu trong cây lúa đang di chuyển từ lá sang bông, nếu rầy chích hút vào bất cứ nơi nào trên cây đều có nguồn dưỡng liệu rất tốt để phát triển. Khi cây lúa đã ngậm sữa, lá vàng, sắp chín thì rầy hết thức ăn, sẽ di chuyển đi hoặc rầy non sẽ chết.
- Thiên địch: thiên địch của rầy nâu rất nhiều, điển hình như nhện, kiến ba khoang, bọ xít mù và rất nhiều loại ong ký sinh trên rầy giai đoạn ấu trùng hay thành trùng.
Do đó để xác định mật số rầy bao nhiêu trên một thước vuông hay trên một tép để phun xịt thuốc tùy thuộc vào những đặc điểm trên .
Câu 02: Rầy nâu gây cháy rầy với mật số rất lớn không thấy truyền bệnh; trong khi ở ruộng khác mật độ rầy thấp nhưng lại truyền bệnh vàng lùn. Nguyên nhân và cách phòng ngừa rầy truyền bệnh ?
Rầy truyền bệnh khi nó có mang mầm bệnh, khi rầy không mang mầm bệnh thì nó chỉ có thể gây ra cháy rầy hay làm vàng cây lúa. Ngược lại, vùng có virus gây bệnh thì khi rầy chích hút nó sẽ mang mầm bệnh đó truyền sang nơi nó đến mặc dù mật số ít. Virus được mang trong nước bọt của rầy, khi chích vào cây lúa thì rầy sẽ nhả nước bọt làm cho nhựa cây lúa loãng đi để hút lên, đồng thời nó sẽ truyền virus vào trong cây lúa. Do đó, khi nghe dự báo cho biết một vùng nào đó bị bệnh này thì rầy nâu ở trên gió có khả năng di chuyển xuống, chúng ta cần cảnh giác.
Câu 03: Cách phòng trị rầy nâu, rầy xanh đuôi, rầy lưng trắng?
Những con này thường có kích thước tương tự nhau nhưng màu sắc và hình dạng hơi khác. Hai con giống nhau là rầy lưng trắng và rầy nâu, rầy lưng trắng có một vệt vàng lợt ở phía đầu, còn rầy nâu thì không có vệt vàng mà toàn một màu nâu, ở giữa cánh có một đốm đen. Con rầy xanh đuôi đen thì hơi dẹp hơn. Những con rầy nâu non gọi là rầy cám cũng có đốm nâu, ở tuổi 2 tuổi 3 là giai đoạn ăn mạnh và mật số rất cao, do đó nên trị vào lúc này trước khi nó gây hại cho cây lúa. Rầy nâu thường truyền các bệnh như bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá, còn rầy lưng trắng hay rầy xanh đuôi đen không truyền bệnh nên chúng ta không cần chú ý lắm.
PGS. TS. Nguyễn Văn Huỳnh - Khoa NN & SHUD, ĐH Cần Thơ.
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2009
Bọ xít đen hại lúa và cách phòng trị
Nguyễn Đình Miền và một số nông dân ở Hải Lăng (Quảng Trị)
Trả lời: Bọ xít đen (Scotinophora sp.), thuộc họ Bọ xít (Pentatomidae), Bộ cánh nửa (Hemiptera). Trước đây ở các tỉnh phía Nam loài bọ xít này chỉ xuất hiện rải rác và gây hại không đáng kể, nhưng những năm gần đây chúng xuất hiện và gây hại nhiều hơn, trên các giống lúa mùa cũng như các giống lúa ngắn ngày. Thực tế đồng ruộng cho thấy những giống nào không kháng được rầy nâu, thì thường là những giống bị bọ xít đen gây hại nhiều hơn những giống khác.
Con trưởng thành của loài bọ xít này dài khoảng 8-10 mm, chiều rộng cơ thể khoảng 5-6 mm, có mầu đen hoặc nâu đen. Nếu bị khua động chúng thường tiết ra mùi hôi để tự vệ. Ban ngày ẩn náu dưới gốc lúa (nếu ruộng khô chúng chui xuống các lỗ nẻ hoặc nấp trong rễ lúa). Chúng có thể lặn sâu trong nước ruộng để lẩn trốn nhờ các bọt không khí bám quanh lớp da không thấm nước. Bọ xít đen rất thích ánh sáng đèn, nên ban đêm thường thấy chúng bay vào những bóng đèn thắp gần khu vực trồng lúa, nhất là ở những vùng, những ruộng lúa vừa được gặt (do không còn chỗ trú ẩn).
Một con trưởng thành cái có thể đẻ vài trăm trứng (trung bình khoảng 200 quả). Trứng hình trụ (giống cái trống), mầu hồng hơi xanh. Trứng được đẻ thành từng ổ trên bẹ lá, phiến lá (kể cả lá khô) nằm gần mặt nước ruộng. Mỗi ổ trứng khoảng 15-20 quả, thường được xếp thành 3-4 hàng. Trứng có thể bị ung (không nở), nếu bị ngâm trong nước khoảng một ngày đêm. Giai đoạn trứng kéo dài 4-5 ngày.
Con ấu trùng có hình bầu dục, mới nở kích thước cơ thể khoảng 1-2 mm, mầu nâu đỏ, chưa có cánh, di chuyển chậm chạp. Khi lớn có mầu tro nâu. Thời gian ấu trùng kéo dài khoảng một tháng.
Cả con trưởng thành và con ấu trùng đều bu bám ở phần gốc của cây lúa (gần mặt đất hoặc mặt nước) để chích hút nhựa. Để lại những đốm mầu vàng, làm cho lá chân của cây lúa bị vàng dần. Nếu bị hại nhẹ, cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, nếu bị hại nặng cây lúa có thể bị khô héo, chết từng khóm, từng chòm (giống như bị cháy rầy). Ở thời kì trỗ, nếu bị hại nặng hạt lúa có thể bị lép, hoặc bạc trắng, gây thất thu năng suất rất nhiều.
Để hạn chế tác hại của bọ xít đen, các bạn phải tiến hành kết hợp một số biện pháp sau:
- Cuối mỗi vụ lúa hoặc trước khi xuống giống vụ sau, cần vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, tiêu diệt hết lúa chét, cỏ dại (nhất là cỏ mồm, cỏ bắc, cỏ đuôi chồn… là những kí chủ phụ của bọ xít), đốt hết gốc rạ vụ trước để tiêu diệt bọ xít, không cho chúng sống sót, sinh sản lan truyền cho vụ sau.
- Không nên gieo sạ quá dầy, nên sạ khoảng 100-120 kg giống cho một ha là vừa (nếu sạ hàng chỉ cần khoảng 70-80 kg).
- Cần bón cân đối hợp lý giữa đạm, lân và kali. Không nên bón quá nhiều đạm để hạn chế chồi vô hiệu. Diệt sạch sẽ cỏ dại để ruộng lúa luôn thông thoáng, giảm bớt điều kiện thuận lợi cho bọ xít phát sinh, phát triển.
- Kiểm tra ruộng lúa thường xuyên để phát hiện sớm và phun xịt thuốc diệt trừ bọ kịp thời. Do bọ xít đen thường tập trung ở phần gốc của cây lúa, vì thế khi đi kiểm tra các bạn phải lội hẳn xuống ruộng kiểm tra kỹ từng bụi lúa (giống như kiểm tra rầy nâu) thì mới có thể phát hiện sớm từ khi mật độ bọ còn thấp. Kinh nghiệm của một số nông dân Long An là khi thấy bọ xít đen bay vào đèn, hoặc chớm thấy lá bị vàng ngọn hoặc lá chân bị rủ thì phải kiểm tra bọ xít ngay.
Khi phát hiện có bọ xít trên ruộng, nếu ruộng chủ động nước các bạn có thể bơm nước cao khoảng 15-20 cm, rồi giữ mực nước này khoảng 2 ngày, để ổ trứng bị ngập, trứng sẽ bị ung không nở được. Sau đó rút cạn bớt nước (chỉ để còn khoảng vài cm) rồi rải thuốc hột như: Virigent 0.3G; Sago-Super 3G; Vicarp 4H; Diaphos 10G...
Cũng có thể phun xịt một trong những loại thuốc như: Vifast 10SC; Bifentox 30ND; Vibasa 50ND; Sherzol 205EC…
Nhớ xịt trực tiếp xuống gốc lúa, nơi bọ xít đang bu bám và gây hại.
Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009
CÁC BỆNH VÀNG LÁ TRÊN CÂY LÚA
· Đồng đều khắp ruộng.
· Lây lan rất nhanh
2) Tình trạng ruộng lúa
· Ruộng có nhiều nước
· Bệnh nặng trong mùa mưa.
· Xuất hiện từ 15 đến 30 ngày sau khi sạ trên ruộng có nhiều nước.
· Nơi trũng bị nặng hơn.
· Lây lan rất nhanh.
3) Những triệu chứng của bệnh
3.1) Lá non
Có thể bị nhiễm bệnh như lá già
3.2) Lá già
- Chóp lá ngã màu vàng cam, xỉn màu và lan dần xuống dưới.
- Trên phần lá ngã màu vàng có các vệt màu nâu sậm chạy dọc theo gân lá.
- Bệnh nặng làm cho lá bị cháy khô.
3.3) Đốm vết trên lá
Trên phần lá ngã màu vàng, có các vệt màu nâu sậm chạy dọc theo gân lá
3.4) Bẹ lá lúa
bình thường
3.5) Chiều cao bụi lúa
Bình thường
3.6) Số chồi trong bụi
Bình thường
3.7) Gốc bụi lúa
Chết lá chân nhiều
3.8) Bông lúa
Bông bị lép nhiều (nếu bệnh nặng)
3.9) Rễ lúa
Bình thường
4) Tác nhân gây bệnh
· Vi khuẩn Pseudomonas sp. gây ra.
· Vi khuẩn lây lan theo nước mưa và nước trong ruộng
5) Cách phòng chống
· Không để nước quá cao trong ruộng.
· Không bón thừa phân đạm.
6) Cách chữa trị
· Rút bớt nước trong ruộng còn 2-3 cm.
· Pha nước vôi 10%, lấy nước trong để phun lên lá lúa. Có thể dùng MX-ĐỘ PH (90% CaO phun xịt cho tiện lợi)
· Phun ít nhứt 2 lần cách nhau 4-5 ngày
Đều khắp ruộng
2) Tình trạng ruộng lúa
Chỉ xảy ra ở giai đoạn từ 50 ngày sau khi sạ trở về sau.
3) Những triệu chứng của bệnh
3.1) Lá non
không có
3.2) Lá già
- Trên lá, vết bệnh bắt đầu từ một điểm rồi lớn dần thành vết bầu dục.
- Từ vết nầy sọc vàng lan từ dưới lên trên ngọn lá tạo thành vệt có màu vàng cam, hơi ngã sang đỏ.
- Bệnh phát triển rất nhanh sau khi lúa trổ bông trở về sau.
- Nếu bệnh xuất hiện sớm, bệnh sẽ phát triển rất nặng và có thể làm cháy khô lá lúa trước khi thu hoạch.
3.3) Đốm vết trên lá
Có đốm nâu hoặc bạc trắng bênh dưới các vệt vàng trên lá
3.4) Bẹ lá lúa
bình thường
3.5) Chiều cao bụi lúa
Bình thường
3.6) Số chồi trong bụi
Bình thường
3.7) Gốc bụi lúa
Bình thường
3.8) Bông lúa
Nếu bệnh xuất hiện sớm và nặng, bông lúa bị lép và lửng nhiều
3.9) Rễ lúa
Bình thường
4) Tác nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Gonatophragmium sp. (Deighton) gây ra
5) Cách phòng chống
· Sạ thưa (100 kg/ha)
· Bón phân theo nhu cầu cây lúa (dùng bảng so màu lá)
Nếu áp dụng đúng đắn hai biện pháp trên, bệnh xuất hiện muộn và không gây thất thu năng suất.
6) Cách chữa trị
· Các thuốc có hiệu quả: propiconazole (Tilt super), thiophanate methyl (Topsin-M, Topan), carbendazime (Carban), hexaconazol (Anvil).
· Phun một trong các loại thuốc trên, 2 lần trong vụ lúa vào các thời điểm:
o 5-7 ngày trước khi trổ bông
o 7 -10 ngày sau khi trổ bông.
Bệnh xuất hiện rải rác trên ruộng
2) Tình trạng ruộng lúa
· Ruộng có nước.
· Thường xuất hiện từ 20 ngày sau khi gieo sạ trở về sau.
3) Những triệu chứng của bệnh
3.1) Lá non
không có
3.2) Lá già
Lá có thể ngã màu vàng xỉn màu hoặc màu vàng cam. Trong khi đó vẫn có những lá vẫn còn giữ màu xanh và có triệu chứng vặn xoắn hoặc rách lá
3.3) Đốm vết trên lá
Có thể có những đốm nhỏ màu nâu
3.4) Bẹ lá lúa
Bình thường hoặc có thể có màu nâu
3.5) Chiều cao bụi lúa
- Thường buội lúa lùn hơn bình thường.
- Chồi có thêm triệu chứng vàng lùn hoặc lùn xoắn lá sẽ lùn nhiều hơn các chồi khác trong bụi
3.6) Số chồi trong bụi
Số chồi lúa trên bụi thường kém hơn bình thường
3.7) Gốc bụi lúa
Bình thường
3.8) Bông lúa
Bụi lúa không trổ được
3.9) Rễ lúa
- Thúi đen (do ngộ độc vì acid hữu cơ) hoặc vàng quéo (do ngộ độc vì phèn.- Cũng có thể vừa thúi đen vừa bị vàng quéo
4) Tác nhân gây bệnh
· Bệnh do buội lúa bị ngộ độc chất hữu cơ vừa bị nhiễm 2 vi rút RGSV (dòng 2) và RRSV cùng lúc.
· Bệnh vừa do làm đất cập rập nên rơm rạ thúi trong điều kiện ngập nước nên gây ra thúi rễ lúa, đồng thời lúa còn bị rầy nâu truyền bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.
· Bệnh còn có thể do ngộ độc hữu cơ (rễ thúi đen) vừa bị ngộ độc phèn (rễ vàng) vừa nhiễm một trong hai bệnh vàng lùn hoặc lùn xoắn lá.
5) Cách phòng chống
· Cần làm đất sớm trước khi xuống giống 15 đến 20 ngày để tránh ngộ độc vì acid hữu cơ.
· Nếu ruộng có phèn, cần đánh rảnh phèn trong ruộng để thường xuyên xã phèn.
· Ngừa rầy nâu bằng biện pháp xuống giống đồng loạt và theo lịch né rầy.
· Trước khi gieo sạ nên xử lý hạt lúa vừa nẩy mầm với thuốc Cruiser-plus hoặc Gaucho.
6) Cách chữa trị
· Bệnh do virus nên không có thuốc trị bịnh.
· Tuy nhiên gây hại cho cả ruộng lúa có thể là rễ lúa bị thúi do các acid hữu cơ tích tụ trong đất. Cũng có tình trạng rễ lúa bị phèn gây hại. Nếu cải thiện tốt điều kiện đất thì sẽ cứu được phần lớn buội lúa không bị nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Do đó nên tháo nước ra khỏi ruộng, đánh rảnh để nước độc tháo ra thật hết. Rải 20 Kg vôi bột cho 1.000 m2 ruộng. Sau đó đưa nước tốt từ kinh rạch vào.
· Có thể phun thêm các loại phân bón lá có hàm lượng P cao như Hydrophos, hoặc các loại phân bón lá có thể kích thích giúp cây lúa khỏe để tăng cường sức đề kháng của cây lúa hầu vượt qua bệnh.
NGUYỄN CHÍ CÔNG – Tổng hợp từ http://www.caylua.vn/
Thứ Tư, 11 tháng 2, 2009
Biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa
Đặc điểm phát sinh và phát triển bệnh
Bệnh bạc lá vi khuẩn phát sinh ngay từ ruộng mạ trên phiến lá, nhưng biểu hiện bệnh rõ nhất là ở lá lúa khi cây lúa đẻ nhánh và phát triển đến giai đoạn lúa trổ bông, hạt chín sữa và đây là lúc bệnh gây hại mạnh nhất.Phiến lá bị khô trắng từng vệt từ chót lá hoặc từ mép lá. Khi bệnh nặng phiến lá bị khô trắng tới 60-70% diện tích hoặc toàn bộ. Các giọt dịch màu vàng hình cầu li ti thường xuất hiện ở mặt vết bệnh vào buổi sáng. Nếu bệnh bùng phát thành dịch, nhất là trên cây lúa làm đòng, lá đòng bị bệnh thì cây lúa dễ bị nghẹn đòng và năng suất giảm tới 55-70%, bông bạc, hạt lép nhiều.
Loại vi khuẩn Xanthomonas oryzae xâm nhiễm vào lá lúa theo thuỷ khổng, khí khổng và nhất là qua vết thương trên lá lúa. Nguồn cư trú của vi khuẩn bạc lá là qua hạt giống, cỏ dại thuộc họ hoà thảo như cỏ lồng vực, cỏ gừng, lúa chét, lúa tự mọc, đất và nước lưu tồn những vi khuẩn này, từ đó lây lan vào ruộng lúa.
Với nhiệt độ 25-30oC và ẩm độ 95-100% sẽ là điều kiện thuận lợi để bệnh phát triển mạnh và có nguy cơ thành dịch. Ở những chân ruộng hẩu, ruộng trũng, chua, bị che rợp, bón đạm muộn, bón nhiều đạm, mất cân đối với lân và kali, hoặc các diện tích bón đạm rải nhiều đợt... cũng làm cho lúa bị bệnh bạc lá vi khuẩn nặng.
Qua thực tế cho thấy, ở những ruộng có mực nước vừa phải khoảng 5-6cm, được giữ ổn định cũng hạn chế được bệnh so với ruộng ngập sâu hoặc khô hạn thất thường. Tính chống chịu của giống lúa cũng ảnh hưởng nhiều đến mức độ bệnh. Những giống lúa có tính chống chịu bệnh khá, đẻ nhánh gọn, tập trung, lá đứng, bề ngang hẹp, giai đoạn làm đòng trổ bông ngắn... tỏ ra chịu được bệnh. Riêng các giống Trung Quốc thường nhiễm bệnh nặng hơn.
Cách phòng trừ hiệu quả
Từ giữa tháng 8 bệnh đã xuất hiện. Khi điều kiện thuận lợi, mưa nhiều bệnh sẽ phát triển nhanh. Bệnh bạc lá vi khuẩn rất khó trị nếu để bị nặng, vì vậy khâu vệ sinh đồng ruộng cần được chú trọng để hạn chế tối đa nguồn bệnh ở rơm rạ, cỏ dại, lúa chét, lúa tự mọc...
Có thể xử lý hạt giống bằng nước ấm 54oC trong 10 phút, gieo mạ vào chân ruộng cao, không bị ngập nước.
Thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình sâu bệnh, điều tiết để cây sinh trưởng nhanh, chăm sóc cân đối về dinh dưỡng, hợp lý về chế độ nước cho ruộng lúa.
Bón đạm gọn, không bón muộn và kéo dài, chú ý kết hợp với phân chuồng, lân, kali, tro bếp. Khi bệnh chớm phát sinh, giữ nước ruộng 5-10cm, nếu lúa đã bắt đầu làm đòng có thể tháo cạn nước vài ba ngày và nhất thiết ngừng bón đạm.
Khi bệnh xuất hiện với tỉ lệ 3-5% số lá bị bệnh, phải phun thuốc hoá học. Sử dụng thuốc Tilt super 300ND pha 1% phun trước khi lúa trổ đòng một tuần và sau khi lúa phơi màu xong 10 ngày, hoặc dùng Starner 20WP, pha 0,1-0,15% phun khi bệnh phát sinh và gia tăng vào giai đoạn lúa đẻ nhánh xong. Ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc Xanthomix 20WP, Sasa 20WP, Batocide 12WP, 22WP... Nếu bệnh nặng phải phun thuốc lặp lại lần 2, cách nhau 5-7 ngày và nên đổi loại thuốc khác.
TTNCKHNV
Thứ Hai, 9 tháng 2, 2009
Cần chú ý rầy nâu hại lúa
Như vậy, so với những ngày trước Tết Nguyên đán thì diện tích nhiễm rầy nâu đã tăng đột biến (gấp đôi). Mật số rầy phổ biến từ 750-2.000 con/m2, trong đó có khoảng 5.100 ha bị nhiễm nặng (trên 3.000 con/m2). Ở Cái Bè (Tiền Giang), Châu Thành A (Hậu Giang) có những diện tích mật số lên đến 9.000-10.000 con/m2.
Với diện tích khoảng 1.537.905 ha lúa ĐX ở các tỉnh Nam bộ đã được xuống giống, tuổi lúa đa số ở giai đoạn mạ, đẻ nhánh, làm đòng. Diện tích lúa thơm (thường là những giống nhiễm rầy) năm nay lại tăng đột biến. Trên đồng ruộng rầy non vẫn đang tiếp tục nở. Sau nhiều ngày lạnh, thời tiết rất có thể sẽ ấm dần trở lại… Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi cho rầy nâu phát sinh, phát triển và gây hại mạnh.
Khi đi kiểm tra, bà con phải lội hẳn xuống ruộng kiểm tra nhiều điểm theo đường chéo góc trên ruộng. Tại mỗi điểm bà con cần vạch lá xem xét kỹ từng gốc lúa, vì rầy nâu chỉ tập trung ở phần gốc này. Chú ý những giống lúa nhiễm rầy như một số giống lúa thơm mà bà con vừa gieo trồng nhiều trong vụ ĐX này.Để hạn chế tác hại của rầy bà con cần hết sức chú ý, thăm ruộng lúa nhà mình thường xuyên để phát hiện sớm và phun xịt thuốc diệt trừ rầy kịp thời.
Nếu phát hiện có rầy nâu, mật số khoảng 3 con/tép thì tiến hành phun xịt thuốc kịp thời.
Để thu được hiệu quả diệt rầy cao, trong việc sử dụng thuốc bà con cần tuân thủ nguyên tắc 4 đúng:
1- Phun đúng loại thuốc:
Qua kiểm tra thực tế đồng ruộng trong dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá mấy năm vừa qua, chúng tôi thấy để trừ rầy nâu có những bà con đã pha trộn nhiều loại thuốc trừ sâu (thậm chí cả thuốc trừ bệnh) với nhau, trong đó có cả những loại thuốc không phải là thuốc trị rầy. Vì thế hiệu quả diệt rầy rất thấp.
Để diệt trừ rầy nâu có hiệu quả cao, bà con cần dùng những loại thuốc đặc trị rầy nâu, tốt nhất nên tham khảo ý kiến của cán bộ chuyên môn tại cơ sở để tránh bị lầm lẫn. Trong bộ thuốc trừ rầy nâu hiện nay có khá nhiều loại thuốc, tùy theo tình hình thực tế tuổi phát dục của rầy nâu trên đồng ruộng lúc phun xịt mà bà con chọn loại thuốc cho phù hợp. Làm sao vừa tiêu diệt được rầy nâu vừa có tác dụng hạn chế tác hại đối với các loài thiên địch trên ruộng lúa, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm cho môi trường.
- Nếu thấy trên ruộng lúa nhà mình rầy cám vừa mới nở hoặc hầu hết là rầy non còn nhỏ tuổi thì bà con có thể sử dụng một trong các loại thuốc như: Butyl 400SC/10WP, Viappla 10BTN/25BTN, Applaud 25SC…
- Nếu trên ruộng chỉ có rầy trưởng thành hoặc có cả rầy non và rầy trưởng thành thì bà con nên dùng một trong các loại thuốc như: Applaud-Bas 27BTN, Vithoxam 350SC, Bascide 50EC, Sachray 200WP, Mipcide 50WP, Goldra 250WP…
2- Phun đúng liều lượng và nồng độ:
Trên bao bì của mỗi loại thuốc, nhà sản xuất đều có ghi hướng dẫn rất cụ thể về liều lượng thuốc cần sử dụng, số lượng bình phun hoặc lít nước thuốc đã pha… cho một đơn vị diện tích. Vậy trước khi phun thuốc bà con nên đọc kỹ những hướng dẫn này và phải tuân thủ đúng những gì mà nhà sản xuất đã hướng dẫn. Tránh pha thuốc quá đậm đặc, nhưng lại rút bớt số lượng bình cần phun hoặc lượng nước cần pha thuốc, không đủ số lượng dung dịch thuốc đã pha, làm cho thuốc không phủ đều trên nhưng vị trí cần phun như nhiều bà con vẫn thường làm trong thời gian vừa qua, nhất là những bà con thuê mướn người khác phun thuốc cho ruộng nhà mình.
3- Phun đúng lúc:
Bà con nên kiểm tra ruộng lúa nhà mình thường xuyên để phát hiện sớm và phun xịt thuốc kịp thời khi mật số rầy đã đạt ngưỡng như đã nói ở phần trên và trên ruộng đa số là rầy non.
Không phun thuốc khi trời quá nắng nóng, nhất là vào các buổi trưa. Không phun thuốc khi cây lúa đang nở hoa, thụ phấn. Không nên phun thuốc khi đang có gió to, khi trời sắp có mưa. Nên phun xịt thuốc vào các buổi chiều mát hay lúc sáng sớm là thời điểm rầy bò ra nhiều thì rầy sẽ chết nhiều hơn.
4- Phun đúng cách:
Khác với nhiều loại sâu hại khác, rầy nâu chỉ tập trung ở phần gốc của cây lúa để hút nhựa. Vậy khi phun xịt, bà con nhớ hướng vòi phun xuống sát phần gốc của cây lúa để rầy dễ bị dính thuốc. Tránh tình trạng hua hua vòi phun trên mặt ruộng như một số bà con hoặc những người đi phun xịt mướn vẫn thường làm. Đối với những ruộng lúa tốt bít bùng, những ruộng lúa cao cây, những ruộng lúa đòng trỗ trở đi bà con nên rẽ lúa thành hàng cách nhau khoảng 1,2-1,5 mét rồi mới phun xịt xuống phần gốc của cây thì rầy dễ dính thuốc hơn.
Nếu điều kiện cho phép, trước khi phun xịt, nên đưa nước vào ruộng ngập cao gần ngọn lúa để rầy tập trung lên phía trên, dễ bị tiêu diệt hơn.
Hậu Giang: Rầy nâu bùng phát trên giống lúa Jasmine 85
Sáng 5/2, ông Lê Văn Đời - Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hậu Giang cho biết: Hiện nay, rầy nâu đang xuất hiện với mật số lớn ở vùng sản xuất giống lúa Jasmine 85 tại huyện Châu Thành A. Đã có 40 ha gieo sạ giống lúa Jasmine 85 nhiễm rầy nặng với mật số từ 12.000-15.000 con/m2 ở xã Trường Long Tây, Trường Long A, huyện Châu Thành A.
Trước tình hình này, Chi cục BVTV tỉnh đã cử cán bộ kỹ thuật xuống khoanh vùng dập dịch với diện tích 640 ha. Nguyên nhân, rầy bùng phát là do đợt xuống giống tháng 12/2008 trùng với một số tỉnh lân cận Sóc Trăng, Bạc Liêu thu hoạch lúa mùa làm rầy di trú sang.
Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2009
Cảnh giác bệnh đạo ôn trên lúa

Mặt khác do được giá cao, vụ đông xuân năm nay nông dân Nam bộ đã đua nhau trồng các giống lúa thơm, đây lại là những giống nhiễm với bệnh đạo ôn. Đã thế, hiện nay, lúa đông xuân đa số đang ở giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, khả năng dinh dưỡng đạm rất mạnh, đây là thời kỳ xung yếu nhất của cây lúa đối với bệnh đạo ôn lá (bệnh cháy lá).
Như vậy, tình hình thời tiết và cây trồng đang rất thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển và gây hại nặng.
Theo Trung tâm BVTV phía Nam thì diện tích nhiễm bệnh đạo ôn tuần qua đã tăng khoảng 5.000 ha so với tuần trước. Như vậy bệnh đang có chiều hướng gia tăng và đang nguy cơ bùng phát dịch nếu không có những biến động đột xuất về thời tiết như khô hanh, nắng nóng trở lại.
Chỉ còn chục ngày nữa là Tết Nguyên đán, bà con Nam bộ đang tập trung cho những công việc chuẩn bị đón Xuân vui Tết. Kinh nghiệm cho thấy thời gian này bà con ta thường mất cảnh giác, ít quan tâm đến ruộng lúa nhà mình, vì thế đã có những năm bị sâu bệnh gây hại rất nặng… trong đó có bệnh đạo ôn.
Để hạn chế tác hại của bệnh một cách chủ động, bên cạnh việc chuẩn bị đón Tết, bà con cần kiểm tra ruộng lúa nhà mình thường xuyên để phát hiện sớm và phun xịt thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Bệnh đạo ôn có thể gây hại trên lá (còn gọi là đạo ôn lá hay bệnh cháy lá), trên cổ bông, trên hạt (còn gọi là đạo ôn bông hay bệnh khô cổ bông). Để bà con không bị lầm lẫn giữa bệnh đạo ôn với những bệnh thông thường khác trên cây lúa, chúng tôi xin nêu một số đặc điểm chính về triệu chứng của bệnh trên đồng ruộng, để bà con dễ nhận biết và phát hiện bệnh.
- Trên lá: Nấm bệnh tấn công trên lá lúa, bệnh gây hại chủ yếu ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh. Lúc đầu vết bệnh chỉ nhỏ như đầu mũi kim, mầu xám xanh giống như bị nước sôi, sau đó chuyển sang mầu nâu, rồi lan rộng dần ra thành hình thoi (hình mắt én) xung quanh mầu nâu đậm, giữa mầu xám trắng (xem ảnh). Khi bệnh phát triển mạnh nhiều vết bệnh liên kết lại với nhau làm cho chỗ bị bệnh bị cháy khô. Nếu nặng cả lá bị cháy khô, cây lúa bị lụi xuống, gặp trường hợp này ruộng lúa sẽ bị thất thu năng suất nghiêm trọng.
- Trên cổ bông, đốt thân: Nấm bệnh tấn công trên đốt thân, trên cổ bông và trên gié lúa, cản trở việc vận chuyển chất dinh dưỡng từ cây lúa lên nuôi hạt, khiến cho hạt lúa bị lép lửng. Nếu bệnh tấn công sớm có thể làm cho hạt lúa bị lép hoàn toàn. Chỗ bị bệnh lúc đầu cũng có mầu xám xanh sau đó chuyển dần sang mầu nâu, nâu đậm. Trên cổ bông, nếu gặp ẩm độ không khí cao, ẩm ướt chỗ vết bệnh sẽ mọc một lớp nấm mốc mầu xám xanh, nếu trời khô vết bệnh sẽ khô tóp lại. Gặp gió to chỗ vết bệnh bị gẫy gập, ruộng lúa trở nên xơ xác.
- Trên hạt: Vết bệnh có hình đốm tròn, viền nâu, tâm mầu xám trắng, đường kính khoảng 1-2 mm. Nếu bệnh tấn công sớm sẽ làm cho hạt lúa bị lem lép lửng.
Khi đi kiểm tra, bà con phải lội hẳn xuống ruộng kiểm tra nhiều điểm theo đường chéo góc trên ruộng. Tại mỗi điểm bà con cần vạch lá xem xét kỹ từng bụi lúa, nhất là những chỗ lúa tốt lốp gần bờ, xung quanh các đường nước… vì nơi đây thường là những chỗ bệnh phát sinh sớm nhất so với những chỗ khác trong ruộng. Có như vậy mới không bỏ sót bệnh, nhất là khi bệnh mới chớm phát sinh vết bệnh chưa điển hình, chưa rõ ràng.
Nếu ruộng lúa nhà mình đang ở thời kỳ cuối đẻ nhánh làm đòng và thời kỳ trước sau trỗ, hoặc lúa bị tốt lốp, nhất là ruộng nhà mình đã gieo trồng giống lúa nhiễm bệnh như một số giống lúa thơm... thì bà con cần hết sức chú ý.
Khi phát hiện thấy chớm có bệnh bà con phải ngưng ngay việc bón đạm và không được để cho ruộng bị khô nước, đồng thời tiến hành phun xịt thuốc ngay.
Về thuốc bà con có thể dùng một trong các loại thuốc như: Fuji-One 40EC/40WP; Bem eurosuper 750WP; Trizole 75WP/75WDG; Vikita 50ND; Fuan 40EC; Rabcide 30WP...
Ở giai đoạn sắp trỗ đến trỗ lẹt xẹt, nếu thấy thời tiết thuận lợi cho bệnh thì phun một đợt thuốc ngừa bệnh tấn công trên cổ bông, bông và hạt lúa, và phun tiếp lần hai sau đó khoảng 10-15 ngày (bà con nhớ là phải phun vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát để không ảnh hưởng đến thụ phấn của bông lúa). Ngoài đạo ôn, đợt phun này còn có tác dụng hạn chế lem lép hạt.
Khi sử dụng thuốc bà con phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng, đặc biệt là phải đủ lượng nước như khuyến cáo của nhà sản xuất để nước thuốc được trải đều trên toàn bộ ruộng và trên cây lúa. Tuyệt đối không pha thêm những loại phân bón lá có tỷ lệ đạm cao phun xịt cùng với thuốc. Để thuốc bám dính tốt, không phun xịt khi lá lúa còn ướt sương.

