Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012
GIÁ TRỊ MANG LẠI TỪ GẠO THAN
Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011
Thời vụ, cơ cấu giống lúa ĐX tại Nam Trung bộ
LUAGAO - Các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) sản xuất nông nghiệp và dịch vụ vẫn chiếm ưu thế. Đây là vùng thường xuyên gánh chịu những đợt thời tiết khí hậu khắc nghiệt đã ảnh hưởng rất lớn đến SXNN. SX lúa gạo có tầm quan trọng đặc biệt đảm bảo ANLT, ổn định đời sống cho người dân trong vùng.
Sản xuất lúa vụ đông xuân ở Nam Trung bộ có nhiều lợi thế như thời gian sản xuất kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau nên cây lúa có điều kiện tích sinh trưởng và lũy chất khô vào các bộ phận kinh tế để đạt năng suất cao. Trong khi nền nhiệt độ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch nhau khá cao từ 6-12oC; cường độ ánh sáng dồi dào, nhất là vào cuối vụ; cường độ bốc hơi nước thường thấp hơn vụ hè thu đã giúp cho cây lúa tích lũy chất khô về hạt rất tốt, khả năng đạt năng suất cao nhất trong năm là có cơ sở.
Tuy vậy, thực trạng sản xuất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh trong vùng thường không ổn định, nhiều nơi mất mùa cục bộ, cụ thể kết quả điều tra tình hình sản xuất lúa trong 11 năm từ 2000-2010 tại các tỉnh trong vùng cho thấy số vụ đông xuân năng suất thấp và bấp bênh như sau: Đà Nẵng có 5/11 vụ, Quảng Nam 3/11 vụ, Quảng Ngãi 4/11 vụ, Bình Định 5/11 vụ; Phú Yên 4 /11 vụ và Khánh Hòa 7/11 vụ.
Nguyên nhân chính là do một số địa phương còn sử dụng cơ cấu 3 vụ lúa/năm nên đã co kéo về thời gian, hoặc cơ cấu 2 vụ lúa/năm nhưng do bố trí không đúng lịch thời vụ gieo sạ, thường nôn nóng đẩy thời vụ đông xuân lên sớm để kịp sạ lúa vụ 3 và sử dụng không đúng cơ cấu giống lúa gieo sạ theo từng trà, giống lúa ngắn, trung ngày lại gieo cấy sớm vào trà đầu vụ (tháng 12) nên khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trổ bông luôn gặp thời tiết bất lợi như nhiệt độ thấp, mưa phùn đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối cùng.
Mặt khác còn có nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh trong vùng đó là:
- Mưa muộn trong tháng 12 của năm trước, do mưa tập trung có khi hình thành lũ sớm đã gây ảnh hưởng đến trà gieo sớm sẽ làm trôi dạt giống thời điểm gieo sạ và ức chế sinh trưởng phát triển cây lúa thời kỳ cây con.
- Thời tiết giá lạnh từ tháng 1 đến 15/3, do nhiệt độ xuống thấp dưới 18-20oC, ẩm độ không khí tuyệt đối thấp < 55% và kết hợp mưa phùn đã ảnh hưởng đến trà lúa sớm làm đòng, trổ bông từ tháng 2 đến trước 10/3 sẽ gây nên tỷ lệ lép cao, thoái hóa đầu bông và hạt lửng nhiều dẫn đến năng suất thấp.
- Hạn hán diễn ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 5, nặng nhất là từ tháng 2-5. Hạn kết hợp nhiệt độ tăng nhanh trên 30oC đã làm cạn kiệt nguồn nước tưới cho lúa. Hạn hán cũng tạo nên môi trường nắng ẩm là một trong những điều kiện rất thích hợp cho rầy nâu, rầy lưng trắng có cơ hội phát triển nhanh và có nguy cơ lan rộng thành dịch gây hại lớn.
Từ thực tiễn sản xuất lúa trong nhiều năm qua, các tỉnh trong vùng đã đồng loạt chuyển đổi hầu hết diện tích từ 3 vụ lúa/năm bấp bênh sang trồng 2 vụ/năm ăn chắc. Nhờ việc bố trí lại thời vụ gieo cấy và sử dụng cơ cấu giống lúa hợp lý, nên sản lượng lúa 2 vụ lúa/năm vẫn đạt cao từ 11-13 tấn/năm, tương đương sản lượng lúa gieo cấy 3 vụ lúa/năm, nhưng lại giảm được gần 1/3 chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế tăng cao. Từ những căn cứ có cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên nên khung thời vụ và cơ cấu giống lúa sản xuất vụ đông xuân 2011-2012 tại các tỉnh trong vùng như sau:
1. Thời vụ gieo sạ
- Đà Nẵng: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/3-5/4; thu hoạch lúa trước 30/4. Thời vụ gieo sạ từ ngày 20/12 và chậm nhất 10/1.
- Quảng Nam: lúa trổ bông an toàn từ ngày 20/3 đến 5/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4 đến 5/5. Thời vụ gieo sạ từ ngày 25/12 và chậm nhất 5/1.
- Quảng Ngãi: lúa trổ bông từ ngày 20/3 đến 5/4; thu hoạch lúa từ ngày 25/4 đến 5/5. Thời vụ gieo sạ từ ngày 25/12 và trà muộn nhất 10/1.
- Bình Định:
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: lúa trổ bông an toàn từ 15/3-30/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ ngày 25/12 và trà muộn nhất 10/1.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: lúa trổ bông từ 15/2-30/2. Thời gian gieo sạ từ 05/12-15/12 và thu hoạch từ 25/3-5/4.
- Phú Yên: lúa trổ bông an toàn từ 10/3-25/3 và thu hoạch từ 15-30/4. Thời gian gieo sạ từ ngày 20-30/12 và muộn nhất 5-10/1.
- Khánh Hòa: lúa trổ bông an toàn từ 10/3-25/3 và thu hoạch từ 10-25/4. Thời gian gieo sạ từ ngày 10-30/12 và chậm nhất 5/1.
2. Cơ cấu giống lúa
- Đà Nẵng: gieo sạ các giống lúa chính: NX30, Xi23. Giống bổ sung TBR45, HT1, Q5, Khang dân đột biến.
- Quảng Nam: gieo sạ các giống lúa chính Xi23, X21, TBR45, CH207, HT1, Q.Nam1; các giống lúa lai Nhị ưu 838, BiO404. Giống lúa bổ sung: NP12, NP16, TBR1, ĐT34, BC15, SH63, Q5, ĐV108, KD18 đột biến và TH3-3.
- Quảng Ngãi: gieo sạ các giống lúa chính: Q5, Khang dân đột biến, ĐV108, ĐH99-81, ĐH815-6, TBR1, ML48, HT1, ĐT34; các giống lúa lai: Nhị ưu 838, TH3-3, Syn6. Các giống lúa bổ sung: VS1, NX30, Xi23, BM9855, BTE1, BIO404.
- Bình Định:
+ Cơ cấu 2 vụ lúa/năm: các giống lúa chính: ĐV 108, ĐB6, Khang dân đột biến, SH2; lúa lai Nhị ưu 838. Các giống lúa bổ sung: TBR1, Q5, VTNA1, BiO404, D.ưu527, BTE1, N.ưu 69.
+ Cơ cấu 3 vụ lúa/năm: các giống lúa chính: ĐV 108, ĐB6, Khang dân đột biến, SH2; lúa lai Nhị ưu 838. Các giống lúa bổ sung: TBR1, ML202, ML214, ML48, HT1, VTNA1, TH3-3 PAC 807.
- Phú Yên: các giống lúa chính: ML202, ML201, ĐV108, Khang dân đột biến, OM6162, OM4088; các giống lúa lai: BiO404, Syn6, PAC807. Các giống bổ sung: ML68, ML48, TH41, HT1, TH6, ML216, ĐT34.
- Khánh Hòa: các giống lúa chính: TH6, ML202, TH41, TH6, ĐT34, VS1, ML48, HT1, ĐV108, Khang dân đột biến. Các giống lúa bổ sung: ML214, TH41, ML216.
3. Một số lưu ý trong thâm canh
Trong sản xuất lúa vụ đông xuân tại các tỉnh Nam Trung bộ cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Tiếp tục cải tiến thời vụ gieo cấy để lúa đông xuân làm đòng và trổ bông an toàn trong thời tiết nắng ấm. Các tỉnh phía bắc DHNTB gồm TP. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và các huyện phía bắc tỉnh Bình Định cần cho lúa trổ bông an toàn từ ngày 20 tháng 3 trở đi để tránh gặp lạnh, nhiệt độ thấp dưới 22oC.
- Cần sử dụng cơ cấu giống lúa thuần ngắn, trung ngày, năng suất cao, chất lượng khá, ít nhiễm sâu bệnh, thích ứng rộng phù hợp gieo cấy cả 2 vụ đông xuân và hè thu để thu hoạch gọn trước 15/9 nhằm tránh gió bão, lũ lụt.
- Đẩy mạnh sản xuất lúa lai, nhất là các giống lúa lai ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt, com ngon. Phấn đấu tăng dần diện tích lúa lai gieo cấy trong vùng từ 15-20% tổng diện tích để nâng cao sản lượng lúa nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ.
- Xây dựng các vùng sản xuất lúa giống tập trung hàng hóa kể cả giống lúa thuần và giống lúa lai để chủ động hạt giống và phục vụ sản xuất vụ mùa tại các tỉnh miền Bắc.
- Thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp và chương trình 3 giảm 3 tăng trong thâm canh tăng năng suất lúa.
- Đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, sử dụng các loại phân bón hỗn hợp NPK, phân nén để bón ruộng, kết hợp bón phân hữu cơ vi sinh và bón vôi để nâng cao độ phì đất lúa tại các tỉnh trong vùng.
- Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về sản xuất, chứng nhận chất lượng và kinh doanh giống cây trồng nói chung, giống lúa nói riêng tại các tỉnh trong vùng.
(Báo NNVN)
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011
Giống lúa OM ở Nam Trung bộ: Năng suất cao bất ngờ
LUAGAO - Trong nhiều năm qua, những giống lúa OM được phổ biến rộng rãi và cho thấy tính thích nghi cao ở vùng ĐBSCL. Gần đây một số địa phương các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên đưa nhiều giống lúa mới dòng OM về khảo nghiệm. Trong đó, tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã đưa các giống lúa mới do Viện lúa ĐBSCL lai tạo về gieo cấy cho năng suất vượt hơn mong đợi.
Theo Phòng NN-PTNT huyện Tánh Linh, năm 2010 Viện lúa ĐBSCL cung ứng hơn 18.600 kg lúa giống bao gồm cấp nguyên chủng (NC) và cấp xác nhận (XN), với các giống lúa OM6162, OM2395, OM6677, OM4900, OM7347, OM6561, OM5472. Kết quả khảo nghiệm đa số giống đều thích nghi với điều kiện sản xuất của địa phương, năng suất đạt bình quân 7- 8 tấn/ha, chất lượng gạo ngon, đáp ứng được thị trường tiêu thụ. Ngoại trừ giống lúa OM6561 có khả năng thích nghi không cao, đẻ nhánh thấp và đang tiếp tục theo dõi qua những vụ sau.
Vừa qua, huyện Tánh Linh hợp tác với Viện lúa ĐBSCL chọn lọc những giống lúa thích nghi nhằm đáp ứng chương trình sản xuất lúa chất lượng cao, quy hoạch tại các xã Nghị Đức, Huy Khiêm và thị trấn Lạc Tánh. Theo đó, trong vụ mùa 2010 và vụ ĐX 2010-2011, sử dụng giống lúa xác nhận OM6162 cấp XN bố trí sản xuất 100 ha trên các chân ruộng tốt, thuận lợi đường giao thông, đảm bảo nguồn nước tưới. Kết quả, năng suất bình quân đạt 65 tạ/ha, cá biệt một số diện tích năng suất cao tới 75- 80 tạ/ha. Sản lượng đạt 650 tấn.
Qua theo dõi tình hình sâu hại, giống lúa OM6162 khi đưa vào sản xuất đại trà có xuất hiện các đối tượng sâu bệnh như rầy nâu, đạo ôn và sâu cuốn lá. Tuy nhiên mức độ gây hại trên đồng ruộng nhẹ. Hiện nay huyện Tánh Linh đang thực hiện kế hoạch sản xuất 3.000 ha lúa chất lượng cao giai đoạn 2010-2015, hợp tác với Viện lúa ĐBSCL tiếp tục thực hiện chương trình khảo nghiệm giống lúa mới như OM10041, OM100040, OM5451, OM6976, OM6916, OM7347, OM5886.
Riêng trong năm 2011, Phòng NN-PTNT huyện Tánh Linh sản xuất 500 ha lúa chất lượng cao với các giống lúa OM 6162, OM4900, OM2395, đồng thời sản xuất giống XN cung cấp đáp ứng nhu cầu nông dân trong huyện.
Nguồn: Báo NNVN
Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011
Giống lúa lai C ưu đa hệ số 1
LUAGAO - C ưu đa hệ số 1 là loại giống lúa lai ba dòng mới do GS Tạ Sùng Hoa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa lai, Đại học KHKT Tây Nam (Trung Quốc) chọn tạo. Cty Giống cây trồng Tây Khoa (Tứ Xuyên) độc quyền sản xuất và kinh doanh. Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái độc quyền cung ứng tại Việt Nam. Giống lúa này đã được tỉnh Tứ Xuyên công nhận là giống lúa lai số 138 và được bảo hộ bản quyền.
Theo Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, tổ hợp C ưu đa hệ số 1 có TGST vụ xuân 130 ngày, vụ mùa 110 ngày ở đồng bằng Bắc bộ VN. Cứng cây, lá đòng dài, đẻ nhánh khá; bông dài 27cm, khối lượng nghìn hạt 30g, cây cao 120cm, năng suất vụ xuân 76-84 tạ/ha, vụ mùa 68-73 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 88-90 tạ/ha.
Tại Việt Nam, từ vụ xuân 2009 giống C ưu đa hệ số 1 đã được trồng khảo nghiệm tại một số tỉnh ĐBSH như Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình. Ngày 8/10/2010 Cục Trồng trọt đã công nhận cho sản xuất thử. PGĐ Sở NN-PTNT Thái Bình, Trần Xuân Định cho biết kết quả khảo nghiệm sản xuất tại Tiền Hải cho thấy giống C ưu số 1 có tiềm năng năng suất cao nếu được đầu tư thâm canh đúng mức, tính chống chịu sâu bệnh khá. Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi tiến hành khảo nghiệm. Tuy nhiên nhược điểm là bản lá to, dài cần thâm canh cân đối bón tăng kali, bón tập trung sớm để phòng chống bạc lá và khô đầu lá. Đẻ nhánh mức trung bình cần chú ý mật độ khi cấy. PGĐ Sở NN-PTNT Hòa Bình, Trần Bảo Toàn có chung nhận xét: C ưu đa hệ số 1 vụ xuân có khả năng chống chịu sâu bệnh và sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao từ 80-85 tạ/ha, chất lượng gạo khá…
Theo khuyến cáo của Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, để đạt năng suất cao cần đảm bảo kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc. Cụ thể lượng giống cho 1 sào Bắc bộ (360m2) là 1kg. Gieo trồng vụ mùa sớm và xuân muộn ở vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ và Bắc Trung bộ trên chân đất tốt, chủ động nước. Thời vụ xuân muộn gieo từ 21/1-5/2, cấy trong tháng 2 (vùng Đông bắc gieo đầu tháng 3, cấy trước 5/4), mùa sớm gieo từ 5-10/6, cấy từ 20/6-5/7. Mật độ cấy 40 khóm/m2, cấy 1 dảnh; yêu cầu cấy nông tay.
Mọi chi tiết xin liên hệ Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái. Địa chỉ: Ô 4, lô 4A, khu đô thị Đền Lừ, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội. ĐT: 0436343141. DĐ: 0912091562. Fax: 0436343141
Nguồn: Báo NNVN
Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010
Phải định hướng lại nghiên cứu giống lúa
PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp VN
LUAGAO - Dù trình độ nghiên cứu lúa của Việt Nam, cả lúa lai hay lúa thuần đều được nhiều nước trong khu vực đánh giá cao.
Hằng năm giống mới ra rất nhiều, thế mà lạ thay, Việt Nam đến nay vẫn chưa có được một giống lúa thương hiệu tầm thế giới... Để nhìn nhận một góc vấn đề,NNVN đã trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp VN (VAAS) về những tồn tại và định hướng nghiên cứu giống lúa trước mắt và lâu dài…
Quá nhiều thành ra loạn giống
Thưa ông, đúng là chúng ta đang có một bộ giống lúa vô cùng phong phú. Nhưng có ý kiến rằng toàn là giống du nhập nước ngoài chứ thực tế các viện tạo được giống đủ sức cạnh tranh rất ít. Ví dụ phía Bắc cơ bản là giống du nhập của Trung Quốc còn miền Nam là toàn nguồn của IRRI?
Mình phải hình dung thế này: Miền Bắc trước đây chúng ta từng có giai đoạn dài không quan hệ với Trung Quốc. Thời gian đó TQ họ đã bắt đầu làm lúa lai, lúa thuần của họ thì quá tốt rồi. Ta lúc đó đóng cửa, tự mày mò nghiên cứu, không tiếp cận được giống từ bên ngoài. Bộ giống rất nghèo nàn, miền Bắc quanh đi quẩn lại là Bao thai, Mộc Tuyền, sau này là Nông nghiệp 8. Chỉ khi hai nước quan hệ bình thường trở lại, lập tức bộ giống tốt của họ ào sang, thích nghi rất nhanh vì khí hậu miền Nam TQ và Bắc VN gần tương đồng, đương nhiên đánh bật giống lai tạo trong nước.
Tương tự ở phía Nam, sau giải phóng thì lúa quốc tế bắt đầu tràn vào phía Nam, đặc biệt bộ giống của Viện Lúa quốc tế IRRI, rất phù hợp. Có người so sánh ta với Thái Lan, rất khập khiễng, vì đất lúa của họ lớn 2,5 lần mình, dân số có 60 triệu, họ cần gì chạy theo lúa năng suất cao, nên lúa bản địa họ giữ được. Ta thì khác, phải đi theo con đường nâng cao năng suất để đảm bảo an ninh lương thực, nhất thiết phải du nhập giống lúa từ ngoài vào và đây là hướng đi đúng. Đã có hai lãnh đạo cao cấp hỏi tôi: tại sao ta dùng nhiều giống Trung Quốc thế mà không dùng giống Thái Lan chất lượng cao. Tôi nói rõ nguyên nhân trên và ta không thể học Thái Lan được, cụ thể không thể trồng giống lúa dài đến 170 ngày mà năng suất có 2,2 tấn/ha, gạo rất ngon. Giống của họ có thương hiệu vì chất lượng như vậy.
Cũng là chọn tạo từ nguồn giống bên ngoài, nhưng dường như các cơ quan nghiên cứu phía Nam làm tốt hơn, ra được nhiều giống tốt đóng góp cho sản xuất. Phía Bắc thì ngược lại, giống lúa chỉ là Khang dân, Q5, Bắc thơm, kể cả lúa lai nữa đều là giống "bê nguyên xi" từ Trung Quốc sang?
Phải nói cạnh tranh về giống miền Bắc khốc liệt hơn vì sát Trung Quốc, một đất nước có hệ thống nghiên cứu giống lúa hạng siêu. Giống Trung Quốc sang là đúng vì giống của họ quá tốt, đóng góp rất lớn cho sản xuất nên phải ghi nhận điều đó. Tất nhiên ta phải có con đường riêng và phải nói đã có những thành quả nhất định chứ không như một số ý kiến hoàn toàn phủ định. Cụ thể giống Xi 23 của PGS.TS Tạ Minh Sơn là 1 trong 10 giống chủ lực của đất nước. Hiện nay một số dòng mới ra đời như SH, AC… đã ra sản xuất diện rộng cho thấy hơn hẳn Khang dân và Q5.
Thực tế đến giai đoạn gần đây chúng ta mới ra được một vài giống lúa đủ sức cạnh tranh giống của Trung Quốc. Có phải vì nghiên cứu lúa của ta lạc hậu?
Theo mình không lạc hậu nhưng đúng là cần phải thay đổi phương pháp nghiên cứu. Chúng ta không nhất thiết phải ra thật nhiều giống như giai đoạn vừa qua; mỗi năm công nhận hàng chục giống. Nên chăng tìm một số giống chủ lực rồi chọn tạo theo hướng khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, đủ sức cạnh tranh. Để nhiều giống vừa khó quản lý mà làm hàng hóa cũng rất khó.
Ở nhiều nước, suất đầu tư nghiên cứu giống rất cao, để ra một giống mới có khi họ chi cả triệu đô la. Đầu tư nghiên cứu giống của ta thế nào?
Riêng nghiên cứu lúa, đề tài cấp Bộ giai đoạn 2005-2010 chừng 25 tỷ đồng; giai đoạn 2010-2015 còn thấp hơn, chưa đến 25 tỷ cả lúa lai và lúa thuần. Theo tôi là thấp, quá thấp là đằng khác. Với một nước xuất khẩu mỗi năm trên dưới 6 triệu tấn gạo thì đúng là đầu tư nghiên cứu lúa chưa tương xứng thật.
Có lần tôi nói với anh Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn rằng Chính phủ nên buộc DN XK gạo chiết khấu 1 tấn gạo ra 1 đô la dành cho nghiên cứu lúa thì chắc chắn nền sản xuất lúa của Việt Nam sẽ khác. Giả sử xuất khẩu 6 triệu tấn sẽ có 6 triệu đô la cho nghiên cứu, một con số trong mơ mà thành quả đem lại cả DN, nhà khoa học, nông dân đều hưởng lợi, lại giảm được áp lực về ngân sách.
Định hướng thế nào?
Hiện ngành nông nghiệp đã “xâu chuỗi” các Viện nghiên cứu lại với nhau với sự điều hành chung là VAAS. Đó cũng là thuận lợi để VAAS điều chỉnh để có định hướng nghiên cứu đúng đắn nhất là nghiên cứu giống. Ông cho biết một số kế hoạch trước mắt và lâu dài?
Chúng tôi sẽ không làm nhiều thứ nữa, phải nghiên cứu có trọng điểm với khoản đầu tư đúng tầm. Tôi lấy ví dụ ra 1 giống lúa mới, năng suất tăng 10%, diện tích sản xuất 1 vạn ha, làm lợi cho xã hội mỗi vụ khoảng 60-70 ngàn tấn thóc, tương đương gần 500 tỷ. Phải nhìn từ khía cạnh hưởng lợi xã hội này để có được những đầu tư xứng tầm.
Theo ông nghiên cứu giống giống cần nhất là gì? Phải là con người. Tôi từng hỏi anh Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm có được mấy người biết làm lúa lai thực sự ở Trung tâm NC lúa lai? Anh Hoàn tìm mãi và đếm không đủ trên đầu ngón tay. Cơ chế, công nghệ cần phải thay đổi, nhưng trước tiên phải là đào tạo. |
Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn thời còn đảm nhiệm chức vụ, từng bảo tôi: Các anh muốn bằng cách gì cũng được, phải làm sao chỉ cần có 2 triệu ha đất thôi mà vẫn sản xuất được 50 triệu tấn thóc. Là những nhà khoa học, chúng tôi rất suy nghĩ điều này. Đấy là điều khó khăn nhưng không phải là điều không thể.
Chúng ta bắt đầu có nhiều phương hướng tiếp cận nghiên cứu lúa mới. Ví dụ Viện Di truyền NN đã lập được phòng giải mã gen lúa mà cán bộ khoa học đang được đào tạo tại Anh. Tôi tin khi ta nắm bắt được bộ gen lúa thì việc tạo giống lúa theo đúng ý đồ sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Một lần nữa nhắc lại, hướng của chúng tôi là các nhà khoa học phải ngồi lại với nhau, nghiên cứu có trọng điểm, chứ không phải ông nào cũng nhảy vào làm giống, bạ đâu làm đấy thì còn lâu mới có giống tầm quốc gia chưa nói thương hiệu thế giới.
Xin cảm ơn ông!
(Theo Báo NNVN)
Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010
Giống lúa lai SL8H-GS9
LUAGAO - Với mục tiêu luôn áp dụng TBKT vào sản xuất để tăng cao năng suất chất lượng cây trồng, bước vào đầu vụ mùa này Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn, Nghệ An đã đưa giống lúa lai SL8H-GS9 vào gieo trồng khảo nghiệm. Kết quả năng suất đã cho thu hoạch được 7,08 tấn/ha, cao hơn giống lúa lai truyền thống 1,74 tấn/ha.
Hội thảo mô hình ngày 20/10/2010 được tổ chức trên đồng đất của xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Đàn đã thu hút hàng trăm cán bộ xã, HTX và bà con nông dân thuộc hai đơn vị ở thị xã Thái Hoà và huyện Nghĩa Đàn. Trạm trưởng Trạm bảo vệ thực vật và giống cây trồng Nghĩa Đàn, ông Nguyễn Viết Trung cho biết: Giống lúa lai 3 dòng SL8H-GS9 được lai tạo bởi tập đoàn SL Agritech Philipines, đơn vị nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam là Cty CP Đại Thành (trụ sở đóng ở Liên Bão - Tiên Du - Bắc Ninh). Giống lúa lai 3 dòng này đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống lúa tạm thời từ tháng 4/2010. Đây là cuộc khảo nghiệm lần đầu tiên tại tỉnh Nghệ An.
Ông Trung tiếp tục cho biết: Giống lúa lai SL8H-GS9 Trạm gieo trồng vào ngày 26/6/2010, với mật độ gieo cấy 40-45 khóm/m2. Giống đối chứng là lúa lai Nhị ưu 838. Trong thời gian gieo cấy, cây lúa gặp phải nắng hạn gay gắt, trong quá trình sinh trưởng thời tiết tiếp tục gây bất thuận nặng nề, sâu bệnh nói chung và sâu cuốn lá nói riêng đã bùng phát trên diện rộng, đến khi lúa trổ bông lại gặp phải mưa lũ. Những yếu tố đó đã làm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và sản lượng cây trồng.
Tuy nhiên qua theo dõi và đánh giá tại ruộng, hội thảo đã đưa ra kết quả: Thời gian sinh trưởng giống lúa SL8H-GS9 tương đương với lúa Nhị ưu 838 (từ 105-106 ngày). Đường kính gốc rạ SL8H-GS9 là 7 mm, Nhị ưu 5 mm. Chiều dài bông SL8H-GS9 23,5cm, Nhị ưu 22 cm. Chiều cao cây lúa SL8H-GS9 115 cm, Nhị ưu 110 cm. Trên thực tế giống lúa SL8H-GS9 đã thể hiện tính nổi trội hơn so với giống lúa Nhị ưu 838 như tính chống đổ khá, chống chịu tốt với điều kiện thời tiết bất thuận, khả năng đẻ nhánh khoẻ, tập trung, từ cấy 1 dảnh/khóm đến thu hoạch có 6 bông hữu hiệu/khóm.
Về sâu bệnh, trong vụ này do thời tiết bất thuận nên giống lúa SL8H-GS9 đã bị nhiễm nhẹ một số bệnh như sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu. Đặc biệt giống lúa mới này có tính chống chịu rất tốt với bệnh bạc lá. Trong lúc đó giống lúa Nhị ưu 838 bị nhiễm nặng sâu cuốn lá và nhiễm nặng bệnh bạc lá. Đối với năng suất, qua thống kê tại các nhóm nông dân kiểm tra trên ruộng khảo nghiệm đã cho thấy giống lúa SL8H-GS9 đã cho thu hoạch được 354 kg/sào (500m2), trong khi đó ruộng đối chứng Nhị ưu 838 chỉ thu được 267kg/sào.
Như vậy trong lần đầu tiên khảo nghiệm giống lúa SL8H-GS9 đã cho năng suất cao hơn giống lúa Nhị ưu 838 là 87 kg/sào(tức là cao hơn 1,74 tấn/ha.) Theo lý thuyết khuyến cáo nếu thời tiết thuận lợi và thâm canh tốt thì năng suất lúa LS8H-GS9 sẽ cho thu hoạch đạt 14 tấn/ha. Về chất lượng, qua sản phẩm do Cty CP Đại Thành cung cấp đã cho thấy giống lúa mới này có hạt gạo dài, cơm dẻo, vị ngọt đậm và mùi thơm đầy hấp dẫn. Theo đó Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn đã lập kế hoạch tiếp tục nhân rộng vùng khảo nghiệm, để khẳng định tính ưu việt của lúa lai SL8H-GS9.
(Theo Báo NNVN)
Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010
Đã có giống lúa hàng hóa cho miền Bắc
LUAGAO - Các nhà chọn giống phía Bắc luôn mong mỏi tìm một bộ giống lúa chất lượng đủ sức thay thế giống Bắc thơm 7, HT1; hay một giống thích ứng rộng, dễ tính, thay thế giống Khang dân, là giống chủ lực trong gieo cấy nhưng đã tồn tại quá lâu đang dần thoái hóa. Giống lúa thuần mới VS1 dường như đáp ứng tương đối các yêu cầu trên: Chất lượng cao, thích ứng rộng, kháng sâu bệnh tốt. Đây là sản phẩm hợp tác giữa Viện Di truyền NN và Cty CP giống cây trồng TW, đang được kỳ vọng.
Trên cánh đồng rộng 20 ha lúa VS1 của HTXNN Thanh Lãng (Bình Xuyên – Vĩnh Phúc) vụ mùa này nhìn không lẫn vào đâu được. Đồng lúa vàng màu lá gừng, phẳng phiu, không một bụi đổ ngã; nếu vạch từng bông thì hạt nào ra hạt nấy rất sáng chắc. Chủ nhiệm HTX Thanh Lãng Nguyễn Huy Kiên kéo chúng tôi cùng ra đồng. Vừa một chốc đã có mấy nông dân từ đâu xúm đến vị chủ nhiệm đòi mua giống cho vụ sau.
Bà Tèo, nông dân trong xã, nhà có đến 8 sào lúa cấy, nói: Các bác đưa được giống đâu về tốt quá. Mỗi lần đi qua, tôi nhìn lại mê sạch sẽ cả con mắt. Vụ này nhà tôi cấy Khang dân, rầy xơi hết, phun đến 2 lần thuốc lúa vẫn cháy rầy. Năm nay lúa nhiễm rầy nặng nhiều nhà mất ăn. Giá như có giống kháng rầy tốt như loại lúa này nhà nông chúng tôi đỡ cực hơn không…
Quả thật vụ mùa năm nay miền Bắc bị dịch rầy hại nặng nhất là cuối vụ. Cũng như nhiều tỉnh khác, Vĩnh Phúc cơ cấu lúa mùa chủ lực vẫn là Khang dân 18. Phải nói nếu thời tiết thuận, ít sâu bệnh thì Khang dân 18 cũng sẽ không đến nỗi nào vì nó vốn dễ tính, có lười chăm bón vẫn đạt 5-6 tấn/ha, vì vậy bao năm nay nông dân đã quen thuộc với giống lúa được coi dành cho con nhà nghèo này. Tiếc rằng khi con người quá quen thuộc thì đồng thời mọi loại sâu bệnh cũng không lạ gì Khang dân 18, chúng sẽ tấn công hễ có điều kiện. Dịch rầy nâu xảy ra, những hộ trồng Khang dân 18 không thất trắng vì cháy rầy thì có cho thu hoạch cũng không được là bao.
Chủ nhiệm Kiên nói: Chúng tôi thử đủ loại giống rồi. Như Bắc thơm 7 gạo ngon thật đấy nhưng không hợp, chịu rầy kém lại nhiễm bạc lá nặng. Thử chán nông dân lại quay về với Khang dân. Mà Khang dân cũng năm được năm mất, gạo lại không ngon, bà con cực chẳng đã mà phải cấy thôi.
Ông chủ nhiệm phấn khích lội xuống ruộng ngắt căng tay một khóm VS1, kiểm tra kỹ từng bông, đếm hạt, ông kết luận năng suất xấp xỉ 6 tấn/ha (2,2 tạ/sào). Hiện thời VS1 một số nơi vừa gặt, hàng xáo cân ngay 7.000đ/kg thóc mà đâu có nhiều để bán, trong khi Khang dân giá chỉ 5.000đ/kg. Chỉ cần làm phép tính đơn giản, cứ cho năng suất 2 giống như nhau, thì chênh lệch giá VS1 đã hơn đứt Khang dân 2 triệu đồng/tấn. NS trung bình 5,5 tấn/ha đồng nghĩa lợi nhuận VS1 tăng thêm 11 triệu đồng/ha, chưa nói VS1 kháng sâu bệnh tốt hơn nên chi phí dùng thuốc BVTV giảm xuống, sản phẩm an toàn hơn, lại ngắn hơn Khang dân 3-5 ngày là điều kiện tiên quyết đảm bảo vụ đông.
Đây mới là vụ đầu tiên HTX Thanh Lãng thử nghiệm giống lúa VS1, nhưng sản xuất thử mà tới 20ha thì phải có lý do mà Ban quản trị HTX đã tính toán kỹ. Là bởi vì họ đã tham quan chán, nhất là bên xã Phú Xuân kề bên đồng đất từa tựa nhau đã làm VS1 thắng lợi từ vụ đông xuân trước đó. Thực tế đã minh chứng VS1 vừa đảm bảo năng suất khá, kháng sâu bệnh tốt, gạo ngon thị trường ưa chuộng, lại ngắn ngày nữa thì còn lựa chọn nào bằng.
Đồng đất Thanh Lãng vàn cao, có phong trào làm vụ đông nhiều năm qua; xã có trên 600 ha đất canh tác thì diện tích cây vụ đông bao giờ cũng đạt trên dưới 350 ha, chủ yếu đậu tương. Ông chủ nhiệm vung tay khoát một cung về đồng lúa VS1 sắp gặt, nói với tôi: Mươi hôm nữa các anh về đây sẽ lại là một màu xanh của đậu tương. Dân chúng tôi gặt đến đâu tra ngay đậu tương vào gốc rạ đến đó, cho nên thời vụ là rất quan trọng và giống ngắn ngày là lựa chọn hàng đầu. Chúng tôi tính kỹ rồi, công thức là 2 vụ lúa VS1 hàng hóa + 1 vụ đậu tương đông, cũng là hàng hóa đang hút thị trường. Anh thử nghĩ xem, 2 lúa VS1 vứt đâu chả được 12 tấn/ha, bán thu 80 triệu; 1 vụ đậu tương mèng cũng 15-17 triệu nữa. Cánh đồng 100 triệu/ha chính là đây!
Khi chúng tôi về Vĩnh Phúc cũng là thời điểm tivi đang quảng bá cho bộ phim sắp khởi chiếu: Bí thư Tỉnh ủy. Một bộ phim dài đến 50 tập, xây dựng hình tượng đồng chí Kim Ngọc khi xưa, người mà trước hay sau công chúng đều yêu mến, chắc chắn bà con đón xem từng tập. Người ta nhớ ông Kim Ngọc khoán hộ là nhớ đến cái nôi đổi mới Vĩnh Phú, hay Phú Thọ, Vĩnh Phúc bây giờ. Tôi theo dõi nông nghiệp chưa hẳn đã lâu nhưng cũng đủ kịp ngồi hàn huyên với 4 đời giám đốc sở nông nghiệp Vĩnh Phúc thời kỳ nông dân được giao toàn quyền suy nghĩ trên đường cày của họ.
Nhớ khoảng 10 năm trước, từ ông Nguyễn Văn Hòa, rồi sau đó là ông Phùng Quang Hùng làm giám đốc sở, các vị đều là những người say sưa tìm những hướng đi mới cho nông nghiệp. Vĩnh Phúc từng có những mũi nhọn kinh tế nông nghiệp lẫy lừng, nào trồng dâu, trồng nấm, chương trình 6 cây 3 con, kể cả việc miễn thuế nông nghiệp hay miễn thủy lợi phí, nơi đây cũng thí điểm đầu tiên, có thất bại và có thành công nhưng có lẽ cho đến bây giờ nông nghiệp Vĩnh Phúc vẫn nhiều trăn trở tìm hướng đi với mong muốn làm sao nông dân bật lên khi mà tỉnh nhà công nghiệp đã khá vững chãi. Vĩnh Phúc không thiếu tiền đầu tư cho nông nghiệp, vấn đề là cách đầu tư thế nào. Nhìn từ Nghị quyết phát triển nông nghiệp của Vĩnh Phúc, thấy thì ra tỉnh đang hướng vào đầu tư trọng điểm, ưu tiên vùng sản xuất hàng hóa.
| Đến nay VS1 đã có mặt nhiều tỉnh miền Bắc như Nam Định, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Vĩnh Phúc… GS.TS Trần Duy Quý, nguyên Viện trưởng Viện Di truyền NN đánh giá VS1 – giống 5 tốt: Năng suất, chất lượng, chống chịu, ngắn ngày, gạo ngon. |
Bà Hằng nói tiếp: "Cho đến khi chúng tôi có được VS1, ngay vụ đầu làm mô hình đã ưng ý: Hầu như các tiêu chí về năng suất, chất lượng, tính chống chịu, thời gian sinh trưởng đều đạt… Nếu như vụ đầu mô hình chỉ 2 ha ở HTX Phú Xuân mùa 2009 thì vụ xuân 2010 HTX này đăng ký làm hẳn mô hình 20 ha. Lúa quá đẹp, từ hình dạng cây, bộ lá đòng, bông. Giống lại chịu rét tốt nên khi trỗ không bị đen hạt và mất đầu bông như Khang dân hay Bắc thơm 7. Hạt rất sáng và chắc. Tổng kết mô hình chúng tôi tổ chức xát và nấu cơm VS1 ngay cho đại biểu đến từ các huyện cùng toàn thể bà con nông dân.
Hôm đó ai cũng nức nở: cơm VS1 mềm mà dai, ngọt đậm lại có mùi thơm nhẹ. Thế là bước vào vụ sau tức là mùa 2010 này, huyện nào cũng thử nghiệm VS1, tổng diện tích lên đến gần 200 ha, có HTX làm thử với diện tích lớn ngay như Trung Nguyên – Yên Lạc 40 ha, Vũ Kiên – Vĩnh Tường 30 ha, Phú Xuân và Thanh Lãng – Bình Xuyên trên 20 ha… Hiếm có một giống mới nào lại được chấp nhận ra sản xuất nhanh như vậy. Đơn giản, bởi đây là giống hội đủ nhiều yếu tố để thành vùng hàng hóa".
| Hướng dẫn gieo trồng lúa VS1: Đặc điểm giống: - Cao cây từ 100 - 110 cm, phiến lá đứng, dầy, lá đòng lòng mo, đẻ nhánh khá, khóm gọn. - Thời gian sinh trưởng: Vụ xuân muộn từ 120 – 125 ngày; vụ mùa từ 95 – 100 ngày. - Năng suất trung bình: 55 - 60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 65 – 70 tạ/ha. Hạt nhỏ, thon dài, màu vàng sáng, khối lượng 1.000 hạt 21 – 22 gram, chất lượng gạo tốt, cơm mềm, vị đậm, có mùi thơm nhẹ. - Cứng cây, chống đổ tốt, chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính (đạo ôn, khô vằn, bạc lá…), khả năng thích ứng rộng. Yêu cầu kỹ thuật: - Thích hợp loại đất chân vàn, vàn cao. - Thích hợp trà xuân muộn và mùa sớm ở các tỉnh phía Bắc. - Mật độ cấy: 50 – 55 khóm/m2, 2 – 3 dảnh/khóm, cấy nông tay. - Phân bón cho 1 ha: 8 - 10 tấn phân chuồng + 200 – 220 kg đạm urê + 450 – 500 kg supe lân + 140 – 160 kg kaliclorua. - Cách bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân + 40% đạm + 50% kali; Bón thúc lần 1(khi lúa hồi xanh): 50% đạm; Bón thúc lần 2 (trước trỗ 20- 25 ngày): bón nốt lượng phân còn lại. - Chăm sóc: Phòng trừ sâu bệnh, chế độ nước và chăm sóc như các giống khác. |
Các địa phương có nhu cầu phát triển giống lúa VS1, liên hệ Cty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương, Phương Mai - Đống Đa – Hà Nội. Điện thoại: 04.38523294; 0913207662; 0913580247 – Fax: 04.38527996.
(Theo Báo NNVN)
Thứ Hai, 27 tháng 9, 2010
MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUẦN MỚI
1. ĐBSCL: Thêm 9 giống lúa mới
Viện Lúa ĐBSCL cho biết, trong số 22 giống lúa mới triển vọng vừa được Bộ NN&PTNT công nhận đưa vào sản xuất là: OM 2514, OM 2517, OM 4900, OM 6561-12, OM 6161, OM 6162, OM 5472, OM 4088, OM 4218.
Bên cạnh đó, 12 giống lúa được tuyển chọn công nhận đưa vào sản xuất thử tnăm 2010 gồm: OM 5954, OM 6600, OMCS 2009, OM 6877, OM 6377, OM 5629, OM 5464, OM 5981, OM 6071, OM 8923, OM 5451, OM 4101, OM 6072. Sau đây là đặc tính các giống lúa vừa được cộng nhận chính thức:
1. Giống lúa OM 2517: Chọn từ tổ hợp lai OM 1325/OMCS 94, có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày; đẻ nhánh khá; dạng hình gọn; cây cao 90-95cm, kháng rầy nâu (RN) khá, hơi kháng đạo ôn; năng suất 6-8 tấn/ha; phẩm chất hạt gạo dài, trong, tỉ lệ gạo nguyên cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (XK). Giống lúa này có thể trồng các vụ trong năm, hơi dài hạt, năng suất cao, thích nghi và ổn định, chịu phân khá.
2. Giống lúa OM 4900: Chọn từ tổ hợp lai C53/Jas85Marker, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 90-95cm; kháng RN khá, hơi kháng đạo ôn; năng suất 7-8 tấn/ha; phẩm chất hạt gạo tốt, hạt dài, không bạc bụng, đạt tiêu chuẩn XK; tỉ lệ gạo nguyên cao, cơm mềm, thơm nhẹ. Đây là giống lúa có thể trồng các vụ, cân đối phân, cho lá đòng thẳng dài, năng suất cao ổn định, sạch bệnh và chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá (VL-LXL).
3. Giống lúa OM 6561-12: Là giống thương mại của Mỹ, thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 90-95cm; kháng RN, đạo ôn khá; năng suất 7-8 tấn/ha; phẩm chất hạt gạo dài, trong, rất ít bạc bụng, cơm mềm, thơm nhẹ, đạt tiêu chuẩn XK. Giống lúa này có thể trồng các vụ trong năm, cân đối phân, cứng cây, lá dài thẳng; bộ lá màu xanh đậm, năng suất cao ổn định.
4. Giống lúa OM 6162: Chọn từ tổ hợp lai C50/Jas85/C50, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn; cây cao 90-95cm; kháng RN và đạo ôn khá; năng suất 6-8 tấn/ha; phẩm chất hạt dài, gạo trong, hạt chắc cao, đạt tiêu chuẩn XK. Giống lúa này trồng các vụ, lá đòng to, chống chịu sâu tốt, chống VL-LXL, được gạo, chịu phèn khá, năng suất cao.
5. Giống lúa OM 5472: Thích nghi rộng và đã được canh tác nhiều tại các tỉnh phía Nam trong năm 2009. Giống lúa này được sản xuất thử trên diện tích khoảng 5.000 ha vụ hè thu 2009 và dự kiến diện tích sản xuất đạt khoảng 20.000 ha ở ĐBSCL trong năm 2010. Giống OM 5472 được chọn từ tổ hợp lai OM2718/Jasmine85, thời gian sinh trưởng lúa sạ khoảng 90-93 ngày trong vụ đông xuân, 93-95 ngày trong vụ hè thu, trổ tập trung, chiều cao cây từ 95-105 cm. Đây là giống lúa có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, trổ tập trung, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, gạo có mùi thơm nhẹ, hạt gạo dài, trong, ít bạc bụng, cơm mềm. Giống OM 5472 chống chịu RN khá; kháng đạo ôn khá, chống chịu bệnh VL-LXL; năng suất ổn định trong cả 2 vụ ĐX và HT, đạt từ 5 đến 8 tấn/ha.
6. Giống lúa OM 4088: Chọn từ tổ hợp lai OM997/OM3536, thời gian sinh trưởng 88-92 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 90-95cm; hơi kháng RN và đạo ôn; năng suất 7-9 tấn/ha; phẩm chất gạo trong, hạt thon dài, cơm hơi cứng, tỉ lệ gạo nguyên cao, đạt tiêu chuẩn XK. Giống thích nghi khá, chịu phèn, hạt lép thấp, năng suất cao.
7. Giống lúa OM 2514: Chọn từ tổ hợp lai IR1314/nếp MT, thời gian sinh trưởng 92-97 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 90-100cm; hơi nhiễm RN, hơi kháng đạo ôn; năng suất 6-8 tấn/ha; phẩm chất hạt thon dài, không bạc bụng, cơm mềm, đạt tiêu chuẩn XK; thích hợp hai vụ lúa và màu.
8. Giống lúa OM 4218: Chọn từ tổ hợp lai OM2031/MTL250, thời gian sinh trưởng 88-92 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 95-100cm; hơi nhiễm RN và đạo ôn; năng suất 6-8 tấn/ha; gạo hạt dài, ít bạc bụng, mềm cơm, gạo nguyên cao. Giống lúa này cứng cây, thích hợp các vụ.
9. Giống lúa OM6161: Chọn từ tổ hợp lai C51/Jasmine85, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, đẻ nhánh khá, dạng hình gọn, cây cao 90-100cm; hơi kháng RN, hơi nhiễm đạo ôn; năng suất 6-8 tấn/ha; phẩm chất gạo ngon, cơm mềm, dẽo; tgạo trong, ít bạc bụng, gạo nguyên cao; có thể trồng các vụ trong năm; lá dong dài, cứng cây, chống chịu bệnh VL-LXL.
2. Giống lúa TBR45: Gạo thơm dẻo, năng suất cao
TBR45 là giống lúa thuần do Cty cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo từ tập đoàn giống lúa thuần có nguồn gốc Trung Quốc qua quá trình khảo nghiệm tại Việt Nam từ năm 2005-2006 đến nay . Tại Nam Định, TBR45 được nông dân đánh giá rất cao và đang mở rộng SX trên diện rộng. Theo Sở NN-PTNT Nam Định cho biết, năng suất TBR45 trong vụ mùa năm 2010 đạt từ 75-80 tạ/ha, một số nơi thâm canh tốt có thể đạt 85 tạ/ha. Lúa ít sâu bệnh, khả năng chống chịu rất tốt. Đặc biệt, gạo TBR45 có chất lượng ngon, màu gạo trong suốt, cơm dẻo, mùi thơm dịu, được thị trường chấp nhận mua với giá cao. Chất lượng gạo TBR45 không thua kém Bắc thơm 7. Mặc dù chưa được công nhận chính thức và bán ra thị trường, nhưng hiện tại nông dân nhiều địa phương tại Nam Định đã “truyền tai” về ưu điểm của TBR45 nên đã chủ động đăng ký mua giống TBR45 về cấy diện tích lớn. Hiện tại, Sở NN-PTNT Nam Định cũng đã đưa TBR45 vào cơ cấu giống của tỉnh và đã kiến nghị Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cho phép sớm đặc cách công nhận chính thức giống TBR45 Tại Thái Bình, TBR45 cũng được nông dân nhiều huyện như Vũ Thư, Đông Hưng, Tiền Hải... chủ động đăng ký mua giống SX trên diện rộng. Tại xã Nguyên Xá (huyện Vũ Thư), lúa TBR45 vụ mùa 2010 hiện đang chín rộ, chuẩn bị thu hoạch. Nông dân tại đây cho biết ngoài yếu tố năng suất cao (vụ mùa 2010 ước đạt trên 80 tạ/ha) và chất lượng gạo cực kỳ thơm ngon, TBR45 có ưu điểm rất cứng và gọn cây, đẻ nhánh khỏe, lá đòng thẳng đứng, trỗ bông tập trung, đặc biệt khả năng chống chịu sâu bệnh như khô vằn, bạc lá... rất tốt. Về thời gian sinh trưởng, TBR45 có thời gian sinh trưởng vụ mùa khá ngắn ngày, từ 100-105 ngày – tương đương với giống Q5 nên tạo điều kiện thuận lợi để làm vụ đông. TBR45 cũng là giống trồng được cả 2 vụ/năm, thích hợp với nhiều chân đất như vàn thấp, vàn cao..., thích ứng rộng trên cả nước. Các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào, TBR45 vụ hè thu có thời gian sinh trường rất ngắn (từ 95-100 ngày), năng suất không thua kém so với nhiều giống lúa thuần khác. Thái Xuyên 111: 800 hạt/bông! Ngoài TBR45, Cty cổ phần giống cây trồng Thái Bình đang “trình làng” một số giống mới đang trong quá trình khảo nghiệm, SX thử như giống lúa thuần TBR36 có năng suất đạt 70-75 tạ/hecta. Đặc biệt, Cty đang mở rộng diện tích SX thử tại nhiều tỉnh như Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên... đối với giống lúa lai 3 dòng Thái Xuyên 111. Đây là giống lúa lai có năng suất đạt trên 80 tạ/ha, chất lượng gạo ngon, cơm dẻo, khả năng chống chịu tốt. Tại các diện tích trồng thử nghiệm tại huyện Đông Hưng (Thái Bình), bông lúa Thái Xuyên 111 rất dài, đạt tới 700-800 hạt/bông. |
Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010
Giống lúa mới trên đất Quảng Ngãi
Trong những năm qua, Cty CP giống cây trồng Thái Bình đã chọn tạo và du nhập tìm ra nhiều giống mới có năng suất cao và chất lượng gạo ngon, tính chống chịu tốt, có khả năng bổ sung vào cơ cấu giống của Quảng Ngãi, góp phần đa dạng và thay thế một số giống lúa có biểu hiện thoái hoá.
Vụ hè thu 2010, Cty CP giống cây trồng Thái Bình đã phối hợp với Phòng NN & PTNT huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) và HTX nông nghiệp Bình Dưong trồng khảo nghiệm 2 giống lúa TBR36, TBR45 với diện tích 1,5 ha tại đội 9, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đối chứng là giống NX 30 đã được trồng phổ biến tại địa phương.
TBR36, TBR45 là giống lúa do Cty CP giống cây trồng Thái Bình chọn tạo, đã được khảo nghiệm theo quy phạm khảo nghiệm quốc gia. Các giống lúa khảo nghiệm được bố trí trên chân đất vàn, đất thịt nhẹ (vùng sản xuất 2 vụ/năm, đảm bảo điều kiện tưới, tiêu chủ động). Lượng giống gieo sạ 80 kg/ha đối với các giống lúa TBR36, TBR45, và 100 kg/ha đối với giống NX30.
Theo báo cáo, đánh giá của Phòng NN & PTNT huyện Bình Sơn, vụ hè thu năm 2010 tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển, giai đoạn sau gieo sạ có gặp mưa nên ảnh hưởng đến mật độ gieo sạ nhưng được tỉa dặm kịp thời đảm bảo mật độ trên đơn vị diện tích. Do thực hiện đảm bảo các khâu chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại và cung cấp đầy đủ nước tưới nên các giống lúa khảo nghiệm sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung, nhánh hữu hiệu cao. Các giống khảo nghiệm đều có chiều cao cây trung bình (từ 99,4 cm – 111,6 cm) kiểu thể hình phù hợp với với điều kiện canh tác ở Quảng Ngãi. Chiều dài của bông khá. Về số bông/m2 các giống đạt trung bình (từ 361,3 - 393,1 bông); tuy nhiên số hạt trên bông của giống TBR45 cao nhất, tiếp đến là giống NX30, TBR36. Nhìn chung, các giống lúa đưa vào khảo nghiệm sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung, nhánh hữu hiệu cao, phù hợp với điều kiện canh tác ở Quảng Ngãi.
Ông Phạm Ngọc Quang - nông dân tham gia mô hình ở xã Bình Dương nói: Vụ hè thu 2010 tôi sản xuất thử 0,6ha giống lúa TBR45. Tôi thấy giống lúa này có sức sinh trưởng khoẻ, sức sống mạ cao, đẻ nhánh tập trung; cứng cây, kiểu lá gọn-đứng, tuổi thọ của lá cao. Giống này dễ làm, dễ chăm sóc. Dự kiến năng suất trên 75 tạ/ha.
Giống TBR36 do Cty CP giống cây trồng Thái Bình tuyển chọn từ vụ xuân 2004 trong tập đoàn lúa thường nhập nội. Tại miền Trung, TBR36 có thời gian sinh trưởng vụ đông xuân 95-100 ngày, vụ hè thu 90-95 ngày; năng suất trên 70 tạ/ha. Chiều cao cây 95- 105 cm, cứng cây, trỗ thoát, dạng hình đẹp, đẻ gọn. Trọng lượng 1.000 hạt 22gram, năng suất cao ổn định từ 65-75 tạ/ha, chống chịu sâu bệnh và chống đổ ngã tốt; thích ứng rộng, gieo trồng được cả 2 vụ/năm, thích hợp nhiều chân đất khác nhau.
Ông Trần Mạnh Báo - Tổng Giám đốc Cty CP giống cây trồng Thái Bình, khẳng định: “Các giống lúa TBR36, TBR45 chúng tôi đã khảo nghiệm ở các tỉnh phía Bắc và đã cho kết quả rất tốt, chất lượng gạo của 2 giống lúa này rất cao; được một số tỉnh đã đưa vào cơ cấu bộ giống lúa của địa phương".
Ngày 27/8 vừa qua, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình sơn phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị đầu bờ nhằm đánh giá khách quan tính ưu việt của các giống lúa nói trên. Tại Hội nghị, các đại biểu đánh giá 2 giống TBR 36, TBR45 có tiềm năng năng suất cao trên chân đất có thâm canh (năng suất bình quân TBR36 đạt 58,2 tạ/ha; giống TBR45 đạt 75,3 tạ/ha), chất lượng gạo ngon. Các giống lúa khảo nghiệm bước đầu có tính thích nghi cao và cho năng suất cao, tương đương với giống sản xuất đại trà (NX30). Các đại biểu cũng đề nghị Công ty CP giống cây trồng Thái Bình tiếp tục đưa 2 giống trên khảo nghiệm ở các vụ tiếp theo trên nhiều chân đất và vùng sinh thái khác nhau của huyện Bình Sơn và một số huyện trong tỉnh Quảng Ngãi, qua đó có căn cứ đánh giá sát đúng hơn, theo dõi chọn ra những giống thích nghi nhất để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh.
(Theo Báo NNVN)
Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010
Nam Dương 99 - giống lúa kháng rầy
Thời gian sinh trưởng 130 – 132 ngày trong vụ xuân, 105 – 110 ngày vụ mùa. Dạng hình đẹp, cứng cây, chịu thâm canh cao, lá dầy đứng, màu xanh trung bình. Năng suất cao, ổn định ở các vùng, vụ mùa 2008, năng suất trung bình tại 4 vùng đạt 72,2 tạ/ha, tương đương Nhị ưu 838, cao nhất đạt 86,3 tạ/ha tại điểm khảo nghiệm Thanh Hóa. Về chất lượng, giống Nam Dương 99 có chất lượng gạo tương đương D.ưu 527, dạng hạt dài thon hơn Nhị ưu 838, tỷ lệ xát của Nam Dương 99 đạt 70,6%, cao hơn hẳn Nhị ưu 838 và D.ưu 527. Về khả năng chống chịu sâu bệnh: Trong điều kiện sản xuất vụ mùa 2007 và 2008, theo kết quả khảo nghiệm của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, SPCT & PB Quốc gia, giống Nam Dương 99 nhiễm bệnh khô vằn và rầy nâu nhẹ hơn giống đối chứng Nhị ưu 838, đặc biệt với bệnh bạc lá Nam Dương 99 không nhiễm đến nhiễm nhẹ ở hầu hết các điểm khảo nghiệm (điểm 0 – 1). Sau khi giống Nam Dương 99 được công nhận cho sản xuất thử, vụ xuân 2010, Công ty TNHH Nam Dương đã triển khai sản xuất thử ở nhiều tỉnh đại diện cho vùng ĐBSH và miền Bắc; xây dựng mô hình trình diễn ở những điểm mới, hợp đồng chuyển giao cho các địa phương đã sản xuất thử có kết quả tốt. Ông Ngô Văn Dương, giám đốc Công ty TNHH Nam Dương cho biết: công ty giao cho cán bộ kỹ thuật phối hợp, triển khai tập huấn kỹ thuật trước gieo cấy cho nông dân, nhất là những địa phương gieo cấy giống Nam Dương 99 lần đầu để nông dân chủ động gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật của giống. Trong từng thời điểm sinh trưởng phát triển của lúa, cán bộ kỹ thuật của công ty phối hợp với cán bộ kỹ thuật của địa phương thăm đồng và thống nhất điều chỉnh các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cho từng diện tích gieo cấy. Vụ này, theo nhận định của các địa phương, năng suất của Nam Dương 99 đều đạt trên 75 tạ/ha, là một trong những giống lúa lai nằm trong tốp dẫn đầu về năng suất. Ấn tượng nhất trong vụ sản xuất này cũng như một số vụ trước là khả năng kháng rầy của giống Nam Dương 99. Cụ thể, vụ xuân 2010 tại huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định gieo cấy giống Nam Dương 99 trên 150ha, trong đó xã Giao Yến gieo cấy 25 ha, đây là tâm điểm của bệnh lùn sọc đen tại Nam Định nhưng toàn bộ diện tích trồng Nam Dương 99 đều không bị rầy gây hại, đương nhiên không bị lùn sọc đen. Ông Đoàn Văn Đồng, chủ nhiệm HTXDVNN Giao Yến cho biết: Đặc thù vùng này là lúa hay bị nhiễm rầy, bệnh lùn sọc đen rất nặng, qua thông tin đại chúng biết được giống Nam Dương 99 có khả năng chống chịu rầy rất tốt, năng suất cao nên chúng tôi đã mang về sản xuất thử, đúng là cầu được ước thấy! Gặp bác Lâm Đình Thám - nông dẫn xã Giao Yến đang thăm đồng, biết chúng tôi về thăm giống lúa Nam Dương 99, bác rất hào hứng: “Đây là năm đầu tiên gia đình tôi cấy giống Nam Dương 99 theo khuyến cáo của HTX, thực sự lúc đầu cũng lo lắng vì chưa hiểu về giống nhưng khi được tư vấn tôi đã mạnh dạn cấy 6 sào và cho đến thời điểm này có thể khẳng định đây là giống năng suất nhất xã tôi, vừa rồi mấy anh khuyến nông đã gặt điểm ruộng nhà tôi, đạt gần 3,2 tạ/sào, bênh cạnh đó nó còn rất sạch sâu bệnh…”. Tại Hưng Yên, vụ xuân 2010 giống Nam Dương 99 được đưa vào chương trình khảo nghiệm, trình diễn, với diện tích khoảng 10 ha. Theo báo cáo kết quả của Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư tỉnh, giống Nam Dương 99 gieo thẳng thời gian sinh trưởng vụ xuân 2010 chỉ 125 – 128 ngày, còn gieo mạ nền cứng cấy mạ non khoảng 130 ngày, lúa sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, gọn cây, góc lá đứng, cứng cây chống đổ tốt, lúa trỗ tập trung, độ thuần đồng ruộng cao, năng suất mô hình gieo mạ nền cứng cấy mạ non đạt 77,8 tạ/ha, mô hình gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng đạt 80 tạ/ha. Tại xã Ngũ Lão, huyện Kim Động, nông dân cấy chân ruộng nước ngập quanh năm, độ sâu trên 20cm, cho thấy giống Nam Dương 99 tỏ ra rất thích nghi, sinh trưởng phát triển tốt, ít bị sâu, bệnh gây hại, năng suất cao nhất trong các giống lúa ở chân ruộng này (cả lúa lai và lúa thuần). Về khả năng chống đổ, ngày 10 và 15/5/2010 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có mưa lớn kèm gió to, Kim Động là địa phương có nhiều diện tích lúa đổ nhất, có nhiều giống lúa lai tham gia khảo nghiệm trình diễn bị đổ, chỉ có giống N.ưu 69, Nam Dương 99 là không bị đổ, đây là một trong những đặc điểm tốt, nông dân lựa chọn cấy vụ mùa. Tổng kết, đánh giá về giống lúa Nam Dương 99, cho thấy giống có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng thích ứng rộng, kháng đạo ôn, nhiễm khô vằn, bạc lá, rầy nâu rất nhẹ, cứng cây chống đổ tốt, là những đặc tính rất quý trong bối cảnh bệnh nguy hiểm lùn sọc đen đang phát sinh gây hại, và nhất là trong sản xuất vụ mùa hay gặp mưa to gió lớn gây đổ ngã. Với những kết quả trên mặc dù việc đưa lúa lai vào sản xuất trong vụ mùa đang có xu hướng giảm nhưng vụ mùa 2010 giống lúa Nam Dương 99 vẫn được nông dân nhiều địa phương lựa chọn để gieo cấy. Ông Ngô Văn Dương cho biết dù mới công nhận sản xuất thử nhưng công ty nhập 70 tấn giống (gieo cấy hơn 2.000ha) mà vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Mong muốn của công ty là được Bộ Nông nghiệp & PTNT sớm công nhận chính thức Nam Dương 99, đưa vào danh mục giống cây trồng được sản xuất kinh doanh để công ty nhập giống với số lượng lớn hơn đáp ứng nhu cầu các địa phương. Nguyễn Tuấn Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/55302/Default.aspx |
Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2010
Giống lúa chịu hạn, mặn ở ĐBSCL
| Phục trang giống lúa Một bụi đỏ Hồng Dân cho vùng lúa, tôm |
TS Võ Công Thành, Trưởng Bộ môn Di truyền giống nông nghiệp – Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng, trường ĐH Cần Thơ cho biết: Từ năm 2000 một số nhà khoa học trường ĐH Cần Thơ đã có những công trình sưu tập và giữ lại những giống lúa cổ truyền. Chúng tôi ngạc nhiên với giống lúa mùa địa phương như: Nàng Qướt, Tiêu Chùm, Sỏi Đá có khả năng chịu mặn tới 20%o, dù năng suất rất thấp, chỉ chừng 2-3 tấn/ha. Trong đó giống lúa Nàng Qướt của Tiền Giang xưa kia nổi trội thích nghi trên đất sát mé biển, vùng ngập mặn thường xuyên. Hay giống lúa Sỏi Đá nổi tiếng cứng cây, năng suất khá...
TS Phạm Trung Nghĩa, Trưởng Bộ môn Công nghệ sinh học - Viện Lúa ĐBSCL cho rằng: Cả 2 vùng lúa phía Bắc và Nam đã bắt đầu thực hiện đề tài chọn tạo giống lúa chịu mặn của Bộ NN-PTNT. Ở phía Nam, Viện Lúa ĐBSCL thực hiện chọn tạo bộ giống chịu mặn với kinh phí 3 tỷ trong 5 năm (2009-2013). Thời gian từ lai tạo - tuyển chọn, cho đến khi có được một số dòng lúa mới thuần chủng cần ít nhất là 6-7 vụ lúa, sau đó cần khoảng 2-4 vụ cho việc đánh giá năng suất, khảo nghiệm đặc tính của giống. Do đó thời gian chọn tạo giống là tương đối dài, cho nên mỗi chương trình, đề tài chọn giống đều có phần kế thừa nguồn dòng/giống lúa từ đề tài chọn tạo giống lúa khác thực hiện trước đó.
Từ năm 2009 đến nay, Viện Lúa ĐBSCL đã bước đầu tìm 30 dòng lúa có triển vọng chịu mặn là những dòng lúa kế thừa, được phát hiện chịu mặn qua nhiều lần thanh lọc trong phòng thí nghiệm và nhà lưới. Đánh giá những dòng lúa triển vọng này có khả năng chịu mặn tốt trong sản xuất lúa vùng ĐBSCL hay không còn đang được phối hợp khảo nghiệm ở một số trung tâm giống của các tỉnh như SócTrăng, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu...
TS Nghĩa cho biết thêm, trong nghiên cứu ngoài việc chọn tạo giống lúa chịu mặn, chúng tôi cũng đang rất quan tâm đến các biện pháp kỹ thuật liên quan đến canh tác lúa như sử dụng phân bón giàu khoáng vi lượng-vitamin, chế phẩm sinh học, hóa chất cải tạo đất, kỹ thuật tưới tiêu, cải tạo đất... sao cho giúp cây lúa chịu đựng tốt hơn trong điều kiện bị nhiễm mặn. Kết hợp được giống lúa chịu mặn với biện pháp kỹ thuật sẽ giúp tăng tính chịu mặn của cây lúa lên cao hơn, sản xuất lúa trong mùa vụ nhiễm mặn sẽ an toàn, hiệu quả. Ngoài tính chịu mặn ra, giống lúa mới cần phải có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng sâu bệnh, thích nghi với điều kiện tự nhiên thì mới được bà con nông dân ưa thích, gieo trồng trong sản xuất.
Hiện nay, một số giống lúa mới của Viện Lúa ĐBSCL xác định có khả năng kháng mặn khá cao như OM6976, OM6677, OM5464, OM5629, OM5166... đã và đang được khảo nghiệm ở một số tỉnh: Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bến Tre. Kết quả khảo nghiệm ban đầu ghi nhận khá khả quan, trong đó giống lúa OM5464 đang được đề nghị nhân rộng và trình Bộ NN-PTNT công nhận là giống lúa sản xuất thử trong năm 2010. Hai giống OM6976 và OM5166 đang được tiếp tục khảo nghiệm, xác định biện pháp kỹ thuật thích hợp để tăng tính chịu mặn và năng suất của giống. Hai giống lúa mới này đang dự kiến xin công nhận trong năm 2011.
TS Võ Công Thành xác nhận: Trong 2 năm 2008-2009, giống lúa BN được chọn tạo từ giống lúa IR 50404 đột biến cho thấy khả năng thích nghi trên vùng đất phèn, chịu hạn ở Đồng Tháp, Trà Vinh và ở Hậu Giang đã có gần 400-500ha. Giống BN chất lượng gạo mềm cơm, hàm lượng amylose trên 22%, bạc bụng 5% (ngưỡng cho phép 15%); kháng rầy, kháng đạo ôn, khô đầu lá, bệnh von… Riêng giống Một bụi đỏ Hồng Dân, từ tháng 2/2009 bắt đầu thực hiện đến nay có được kết quả bước đầu với 100kg giống chuyển giao về huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) nhằm đáp ứng cho mô hình lúa-tôm, không sử dụng thuốc trừ sâu để sản xuất gạo sạch. Bên cạnh đó, hiện nay Bộ môn Di truyền chọn giống nông nghiệp – Khoa nông nghiệp & Sinh học ứng dụng, trường ĐH Cần Thơ đã có kết quả trong việc chọn tạo giống đậu bắp mới với ưu thế lai, có khả năng kháng sâu đục trái, sâu đục thân, chịu hạn, phèn; có khả năng trồng trên vùng đất mặn và năng suất cao. Đây là giống hướng tới sản xuất sạch, không dùng thuốc sâu để phát triển vùng rau màu ở vành đai các đô thị.
Trở lại với đề tài nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu mặn, TS Nghĩa nhận xét: Thực tế trong sản xuất hiện nay ở một số vùng lúa nhiễm mặn, ruộng lúa thường bị ngập tạm thời trong thời gian từ 7-18 ngày sau khi xuống giống đầu vụ. Hướng nghiên cứu thích nghi này đã được Viện Lúa Quốc tế thực hiện, còn Viện Di truyền NN và Viện Lúa ĐBSCL cũng đang bắt đầu thực hiện. Giống lúa bố mẹ mang tính chịu mặn và chịu ngập đã được xác định và không bị rào cản về bản quyền nguồn giống. Do BĐKH, kết hợp với việc xuất hiện đê ngăn nước thượng nguồn sông Mê Kông, nước trong sông, kênh rạch vùng ĐBSCL có thể bị thiếu tạm thời. Do đó chọn giống lúa chịu hạn trong thời gian ngắn (khoảng 5-14 ngày), đất không quá khô hạn (chủ yếu là ráo nước đến hơi khô) mà vẫn cho năng suất khá cao (từ 4-7 tấn/ha) là thích ứng nhất với điều kiện ĐBSCL. Chọn giống lúa theo hướng này sẽ đáp ứng tốt với kỹ thuật quản lý nước tưới tiêu tiết kiệm của Viện Lúa Quốc tế (tưới - khô ráo xen kẽ), hợp với điều kiện nguồn nước của ĐBSCL hiện nay”.
Đối với chọn giống lúa chịu nhiệt độ cao, TS Nghĩa cho rằng: Nhiệt độ cao trong giai đoạn trổ bông sẽ ảnh hưởng đến năng suất lúa. Ở nhiệt độ cao hơn 35oC trong vài giờ sẽ làm bông lúa đang trổ bị lép rất nhiều sau này. Nhiệt độ cao cũng sẽ làm giảm kích thước hạt lúa và giảm tỷ lệ xay chà gạo. Một vài đặc tính liên quan đến cấu trúc bông lúa cũng như đặc tính trổ sớm vào buổi sáng của một số lúa hoang có thể giúp lúa ít bị thiệt hại do nhiệt độ cao. Do đó, việc đầu tiên của hướng chọn giống này là phải đánh giá lại các ngân hàng gen giống lúa cho đặc tính chịu nhiệt độ cao, hoặc tìm nguồn giống lúa chịu nhiệt độ cao sử dụng trong các chương trình lai tạo.
Hữu Đức
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/54732/Default.aspx
Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2010
Giống lúa thuần chất lượng VS1
LUAGAO - Hàng chục năm nay, rất, rất nhiều giống lúa thuần do các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu chọn tạo được tung vào thị trường Việt Nam và đều được tham chiếu, so sánh với Khang Dân 18 và Q5.
Tại sao? Khang Dân 18, Q5 năng suất không có gì nổi bật, chất lượng thậm chí trung bình, thậm chí kém (riêng Q5 nhiều nơi còn được gọi là “gạo lợn” chỉ dùng cho chăn nuôi, làm bún bánh, nấu rượu chứ ít người dùng nó để ăn hàng ngày). Chỉ một lý do duy nhất cho sự tồn tại của chúng, phổ thích nghi rất rộng, năng suất ổn định và là giống của con nhà nghèo, không cần đầu tư nhiều mà vẫn có thu hoạch đều đều, rất yên tâm khi xuống giống trong mọi điều kiện thời tiết.
Thời gian cứ trôi vùn vụt, tiến bộ khoa học cứ tiến lên như vũ bão mà “tượng đài” Khang Dân 18, Q5 vẫn đứng vững, thách thức mọi nhà khoa học, bất chấp những chỉ trích về chất lượng đáng khiêm tốn của chúng. Giáo sư Trần Duy Quý - nguyên Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp và cộng sự đã dày công nghiên cứu, chọn tạo giống VS1 cũng chỉ với một mục đích, giống lúa thuần này có thể cạnh tranh ngang ngửa với những giống lúa thuần có nguồn gốc Trung Quốc kia.
Theo tác giả, VS1 là cái tên đầy kiêu hãnh có nghĩa là Việt Nam Seed 1 (giống lúa của Việt Nam - PV) trước mắt sẽ có mục tiêu phát triển ở VN, tương lai còn có thể xuất khẩu ra các nước trong khu vực. Nó ngắn ngày hơn Khang Dân khoảng 3-5 ngày, năng suất tương đương, nhưng chất lượng hơn hẳn vì có gen thơm.
Giáo sư Quý tâm sự: “Chúng ta đã là nước xuất khẩu gạo mạnh, giờ nhu cầu không phải đòi hỏi là no bụng nữa. Những giống lúa năng suất khá mà chất lượng kém cần được thay thế bằng những giống có chất lượng. VS1 là một giống như vậy”. Trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia rất quy củ cho thấy, so với những giống đối chứng như Bắc Thơm và Hương Thơm, năng suất VS1 vượt 15%, thời gian sinh trưởng ngắn hơn 5-7 ngày, có ưu điểm thích nghi rộng, cứng cây, nhất là kháng bạc lá hơn Bắc Thơm. Về chất lượng gạo VS1 khá tốt, ở thang điểm 4 trên cao nhất là 5 điểm. Khi so sánh với cả giống lúa thuần đã quá quen thuộc và phổ biến là Khang Dân, nó năng suất tương đương, chống đổ tốt hơn, tỷ lệ bạc lá ít hơn… Gạo VS1 khi thổi cơm lên có mùi thơm nhẹ, vị đậm rất dẻo…
Vụ xuân 2010, Trung tâm khuyến nông-Khuyến ngư Vĩnh Phúc đã xây dựng mô hình thử nghiệm giống lúa thuần chất lượng VS1 tại HTX NN Nhân Lý, xã Phú Xuân (Bình Xuyên). Quan sát trên đồng ruộng về cảm quan cho thấy giống lúa VS1 có thân to, đốt ngắn, cây khá thấp nên có khả năng chống đổ tốt. Ruộng trồng giống này nhìn cũng đẹp mắt vì sạch sâu bệnh hơn giống đối chứng là Khang Dân. Trong vụ xuân 2010 ở giai đoạn phát triển làm đòng gặp thời tiết diễn biến phức tạp (nhiệt độ thấp) nên giống Khang Dân 18 đã bị thoái hoá hoa rất nhiều trong khi VS1 ít bị ảnh hưởng. Kết quả là VS1 vẫn cho tỷ lệ hạt chắc trên bông cao hơn đối chứng. Về tình hình sâu bệnh, một số loại sâu phổ biến như sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn gây hại ở mức độ nhẹ.
Đánh giá về năng suất của HTX cho thấy VS1 có số bông hữu hiệu, hạt chắc cao hơn Khang Dân nên năng suất cao hơn cỡ 20kg/sào. Dựa vào năng suất, chi phí đầu tư và giá cả thị trường, đơn vị này sơ bộ hạch toán, trên cùng một sào đất canh tác, khi cấy VS1 thu lãi cao hơn Khang Dân từ 200.000-205.000đ, tương đương cao hơn 5,5-5,6 triệu/ha. Trao đổi với chúng tôi, Phó Chủ nhiệm HTX Phú Xuân, ông Phạm Thanh Tâm cho biết vụ này đơn vị trồng 20 ha VS1. Kinh nghiệm của ông cho thấy, đây là giống lúa đẻ nhiều, nếu trồng mật độ dày thì hơi nhiễm khô vằn. Khi canh tác không được bón quá nhiều đạm, không bón phân lai rai mà bón nặng đầu, nhẹ cuối: “VS1 cây thấp hơn Khang Dân nên chống đổ tốt, chịu các giống sâu bệnh khá tốt. Ưu điểm của nó là gạo trong, không bị gãy, đục như Khang Dân, nhìn thích mắt hơn và ăn thì chất lượng hơn hẳn, dân rất ưa chuộng, giá bán luôn cao hơn. Tới đây, chúng tôi sẽ mở rộng diện tích trồng lên tới 50-60 ha”.
Để minh chứng cho chất lượng của giống lúa thuần VS1, ngay sau khi tham quan đầu bờ kết thúc, đại biểu về hội trường đã thấy xuất hiện trên bục lù lù… mấy cái nồi cơm điện đang nghi ngút bốc hơi. Nhiều người còn đang ngỡ ngàng không hiểu có chuyện gì, mấy nhân viên đã mau mắn xúc cơm lên đĩa. Họ cứ tay đĩa đựng cơm, tay đĩa đựng muối vừng, mời từng người xơi. Một mùi thơm thoang thoảng dịu nhẹ như xua đi cái nóng ran của những ngày hè đổ lửa. Tôi cũng véo một ít cơm trên tay, không vội ăn mà nhẹ nhàng đưa lên mũi hít hà rồi mới bỏ vào miệng nhẩn nha nhai. Gạo dẻo, vị khá, nếu so với Khang Dân quả là vượt trội. Phải tự tin về chất lượng của VS1 lắm nên ban tổ chức cuộc hội thảo mới dùng chiêu tiếp thị rất độc đáo như thế này. Nhiều người cũng bị thuyết phục như tôi.
Hiện giống lúa thuần VS1 đã được chuyển nhượng bản quyền cho Cty Cổ phần giống Cây trồng Trung ương toàn quyền sản xuất, cung ứng. VS1 có thay thế được Khang Dân, Q5 hay không và thay thế được bao nhiêu phần trăm, có đáp ứng được những kỳ vọng của các tác giả đã dày công nghiên cứu hay không có lẽ thời gian sẽ là câu trả lời đúng đắn nhất./.
* Thời gian sinh trưởng vụ xuân từ 120-125 ngày, vụ mùa 95-100 ngày. Chiều cao cây từ 100-110cm. Năng suất trung bình 55-60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 65-70 tạ/ha. Chất lượng gạo tốt.
Dương Đình Tường
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/53560/Default.aspx
Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010
LÚA LAI F1 TẠI VIỆT NAM VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA LAI F1 NĂNG SUẤT CAO, PHẨM CHẤT TỐT THÍCH HỢP CHO CÁC TỈNH PHÍA NAM
LUAGAO - Lúa là cây lương thực chính tại Việt Nam, cung cấp lương thực và là ngành sản xuất truyền thống trong nông nghiệp. Mục tiêu sản xuất lúa đến năm 2010 là duy trì diện tích trồng lúa ở mức 3,96 triệu ha, sản lượng đạt 40 triệu tấn, cao hơn năm 2003 là 5,5 triệu tấn (Thủ tướng Chính phủ, quyết định số 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/ 2005). Để đạt được mục tiêu trên, khả năng mở rộng diện tích không nhiều, và có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái, do vậy chủ yếu phải tăng năng suất. Giống là một biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất hiệu quả nhất. Sử dụng ưu thế lai của cây lúa (lúa lai) để tạo ra những giống lai F1 năng suất cao đang được nghiên cứu và sử dụng trong những năm gần đây.
Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa ưu thế lai vào năm 1983. Lúa lai thương phẩm được gieo trồng tại Việt Nam từ những năm 1991. Lúa lai đã thể hiện được ưu thế về: tiềm năng năng suất, chịu thâm canh và khả năng chống chịu sâu bệnh. Diện tích lúa lai tăng lên nhanh chóng từ 59 ha năm 1991 lên 584.000 ha năm 2006. Kỷ lục diện tích lúa lai đạt được 600.000 ha và năm 2003. Động lực thúc đẩy phát triển lúa lai với tốc độ nhanh là sự kết hợp của ba yếu tố: tiềm năng ưu thế lai cao về năng suất, sự quan tâm của lãnh đạo và chính sách hợp lý của Nhà nước.
Từ khi du nhập vào Việt Nam, lúa lai phát triển vượt bậc, diện tích sản xuất giống tăng từ 123 ha năm 1994 lên 1.430 ha năm 2007, năng suất hạt giống lúa lai F1 trung bình ở Việt Nam đã đạt khoảng 2,0 tấn/ha, kỷ lục đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha tại Nam Định, trên tổng số 1500 – 2000 ha/năm. Hiện tại Việt Nam sản xuất ra 3.500 – 4.000 tấn hạt lai F1/năm; cung cấp 20 – 25 % tổng nhu cầu hạt giống. Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần từ 15 – 20 %. Các tổ hợp đang được sử dụng gồm: Bác ưu 903, Bác ưu 64, Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, D ưu 6\527, TH3-3, VL20, HYT 83. Tổng kinh phí khuyến nông dành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hỗ trợ sản xuất hạt giống khoảng 52 tỷ đồng từ năm 1994 – 2007. Các vùng chuyên sản xuất hạt giống được hình thành như: Nam Định, Thanh Hóa, Lào Cai, Quảng Nam và Đắc Lắc.
Qua 19 năm (1991 – 2010) công nghệ lúa lai đưa vào Việt Nam, Lúa lai đã có chỗ đứng khá bền vững, nông dân chấp nhận, góp phần đưa công nghệ trồng lúa của Việt Nam vươn tới trình độ cao của khu vực. Lúa lai không chỉ phát triển ở các tỉnh phía Bắc, mà hiện tại đã phát triển mạnh ở các khu vực khác mà trước đây chúng ta cho rằng không thể phát triển như Đồng bằng sông Cửu Long. Một số giống Lúa lai nhiệt đới của một số công ty như Bayer, Giống cây trồng Miền Nam, Bioseed,…đã đưa ra thị trường, và được ưa chuộng trong vài năm gần đây. Sau đây xin giới thiệu một số đặc tính các giống Lúa lai nổi bật ở phía Nam
1. ARIZE B-TE1 – Sự đột phá hoàn hảo
Giống lúa lai Arize B-TE1 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience sản xuất và được công nhận giống quốc gia từ tháng 07/2007 cho các tỉnh phía Nam và công nhận cho các tỉnh phía Bắc từ tháng 3/2008 cho tất cả các vụ trong năm
+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác
+ Hạt thon nhỏ, gạo chất lượng cao, cơm mềm, thơm nhẹ, chất lượng nấu ăn tốt, được chấp nhận cao
+ Kháng bệnh đạo ôn tốt (Cấp 1), kháng Rầy nâu trung bình
+ Hạt gạo dài 6,4 – 6,5 mm
+ Tiềm năng năng suất (Năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt
+ Thời gian sinh trưởng (TGST):
++ Miền Nam: Đông xuân: 100 – 107 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)
++ Miền Trung và Cao Nguyên: Đông xuân: 110 – 115 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)
+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ. Tốt nhất 35 kg/ha
+ Năng suất đạt 8 – 10 tấn/ha. Theo kết quả sản xuất của nông dân ĐBSCL vụ Đông xuân 2007-2008 nếu thâm canh tốt, quản lý sâu bệnh tốt có thể đạt trên 12 tấn/ha
=> Nhược: Hạt B-TE1 ngắn và nhỏ vì thế không đáp ứng cho xuất khẩu, TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác 3 vụ lúa trên năm
2. ARIZE XL – 94017 – Hạt dài ngon cơm
Arize XL – 94017 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience – chi nhánh Ấn Độ chọn tạo ra. Hạt giống đã được Bộ NN và PTNN công nhận cho Miền Nam và Trung Bộ vào tháng 1/2009
+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác
+ Hạt thon dài 7,3 – 7,4 mm, gạo chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
+ Kháng đạo ôn tốt (Cấp 2), chống chịu rầy nâu trung bình (Cấp 5)
+ Tiềm năng năng suất (Năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt
+ Chiều cao cây 100 – 105 cm, lá đứng, xanh, cứng cây, chống đổ ngã, bông dài nhiều hạt
+ Thời gian sinh trưởng:
++ Miền nam: Đông xuân: 103 – 105 ngày; Hè thu: 108 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)
++ Miền trung và Cao nguyên: Đông xuân: 115 – 120 ngày; Hè thu: 110 – 115 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)
+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ. Tốt nhất 35 kg/ha
=> Nhược: TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác 3 vụ lúa trên năm
3. PAC 807
- Nguồn gốc: PAC 807 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng, nguồn gốc Ấn Độ, nhập nội bởi Công ty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam (SSC), được công nhận là giống quốc gia năm 2007
- Đặc tính chủ yếu:
+ Thấp cây 85 - 95 cm, đẻ nhánh khỏe, bông to (180-200 hạt chắc /bông), hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, cơm nở mềm, ngon. Trọng lượng 1.000 hạt 24 g.
+ Năng suất 7 – 8 tấn/ha, cao hơn lúc thuần 10 – 15 % (thâm canh tốt đạt 10 - 11 tấn/ha). TGST ngắn 85 – 90 ngày. Đặc biệt chống chịu tốt rầy nâu, đạo ôn và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá
+ Trồng được ở các tỉnh phía Nam (từ Quảng Nam trở vào). Hiện đang trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam như Kiên Giang, Long An, Cần Thơ và Bình Định
4. Bio 404
- Nguồn gốc: Bio 404 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng do Ấn Độ lai tạo, được Công ty Bioseed Việt Nam nhập nội và sản xuất
- Đặc tính chủ yếu:
+ TGST vụ xuân từ 120 – 125 ngày, Bio 404 có khả năng chống đổ tốt, nhiễm bệnh khô vằn nhẹ, chiều cao cây từ 105 – 110 cm, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, dạng hình cây gọn, lá màu xanh nhạt, bông to, nhiều hạt, trung bình 176 hạt/bông.
+ Năng suất bình quân 8,05 tấn/ha
+ Bio 404 thích hợp cho cả vùng từ Bình Định trở ra phía Bắc và phía Nam
*Lưu ý: Không dùng lúa thịt để làm giống vụ sau, năng suất không đảm bảo vì không còn ưu thế lai. Hạt giống đã được sử dụng hóa chất nên không được sử dụng cho người và gia súc, gia cầm

