LUAGAO - Giới thiệu
Báo cáo tham luận tại Hội thảo tư vấn “Định hướng nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam 2011-2020”, ngày 8/6/2011 do Bộ NN & PTNT chủ trì, tại VAAS" của PGS - TS
Nguyễn Thị Trâm, ĐHNN Hà Nội.
LUAGAO - Giới thiệu
Báo cáo tham luận tại Hội thảo tư vấn “Định hướng nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam 2011-2020”, ngày 8/6/2011 do Bộ NN & PTNT chủ trì, tại VAAS" của PGS - TS
Nguyễn Thị Trâm, ĐHNN Hà Nội.
LUAGAO - C ưu đa hệ số 1 là loại giống lúa lai ba dòng mới do GS Tạ Sùng Hoa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa lai, Đại học KHKT Tây Nam (Trung Quốc) chọn tạo. Cty Giống cây trồng Tây Khoa (Tứ Xuyên) độc quyền sản xuất và kinh doanh. Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái độc quyền cung ứng tại Việt Nam. Giống lúa này đã được tỉnh Tứ Xuyên công nhận là giống lúa lai số 138 và được bảo hộ bản quyền.
Theo Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, tổ hợp C ưu đa hệ số 1 có TGST vụ xuân 130 ngày, vụ mùa 110 ngày ở đồng bằng Bắc bộ VN. Cứng cây, lá đòng dài, đẻ nhánh khá; bông dài 27cm, khối lượng nghìn hạt 30g, cây cao 120cm, năng suất vụ xuân 76-84 tạ/ha, vụ mùa 68-73 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 88-90 tạ/ha.
Tại Việt Nam, từ vụ xuân 2009 giống C ưu đa hệ số 1 đã được trồng khảo nghiệm tại một số tỉnh ĐBSH như Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình. Ngày 8/10/2010 Cục Trồng trọt đã công nhận cho sản xuất thử. PGĐ Sở NN-PTNT Thái Bình, Trần Xuân Định cho biết kết quả khảo nghiệm sản xuất tại Tiền Hải cho thấy giống C ưu số 1 có tiềm năng năng suất cao nếu được đầu tư thâm canh đúng mức, tính chống chịu sâu bệnh khá. Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi tiến hành khảo nghiệm. Tuy nhiên nhược điểm là bản lá to, dài cần thâm canh cân đối bón tăng kali, bón tập trung sớm để phòng chống bạc lá và khô đầu lá. Đẻ nhánh mức trung bình cần chú ý mật độ khi cấy. PGĐ Sở NN-PTNT Hòa Bình, Trần Bảo Toàn có chung nhận xét: C ưu đa hệ số 1 vụ xuân có khả năng chống chịu sâu bệnh và sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao từ 80-85 tạ/ha, chất lượng gạo khá…
Theo khuyến cáo của Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái, để đạt năng suất cao cần đảm bảo kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc. Cụ thể lượng giống cho 1 sào Bắc bộ (360m2) là 1kg. Gieo trồng vụ mùa sớm và xuân muộn ở vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ và Bắc Trung bộ trên chân đất tốt, chủ động nước. Thời vụ xuân muộn gieo từ 21/1-5/2, cấy trong tháng 2 (vùng Đông bắc gieo đầu tháng 3, cấy trước 5/4), mùa sớm gieo từ 5-10/6, cấy từ 20/6-5/7. Mật độ cấy 40 khóm/m2, cấy 1 dảnh; yêu cầu cấy nông tay.
Mọi chi tiết xin liên hệ Cty TNHH Nông nghiệp Á Thái. Địa chỉ: Ô 4, lô 4A, khu đô thị Đền Lừ, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội. ĐT: 0436343141. DĐ: 0912091562. Fax: 0436343141
Nguồn: Báo NNVN
SX giống lúa F1 Nhị ưu 838 trên cánh đồng Mường Lò
LUAGAO - So với hàng chục tổ hợp lúa lai Trung Quốc, hai giống lúa lai mang thương hiệu Made in Việt Nam là TH 3-3 và VL20 được nông dân chấp nhận, cạnh tranh được. Còn lại, nhiều giống lúa lai do các nhà khoa học Việt Nam lai tạo thì sớm chết yểu. Một câu hỏi đặt ra: Các nhà khoa học Việt Nam kém tài hay các DN không thiết tha SX giống?
Bài viết này chúng tôi không lạm bàn chuyện các nhà khoa học Việt Nam kém tài, việc này để các nhà khoa học lên tiếng. Bởi, lai tạo thành công một giống lúa liên quan tới nhiều vấn đề, không chỉ tài năng niềm say mê của nhà khoa học mà còn kinh phí, máy móc, trang thiết bị cho nghiên cứu và chế độ đãi ngộ nhà khoa học. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập một vấn đề: DN nào thiết tha SX lúa giống?
Chúng tôi thử đưa ra một vài con số ví dụ: Trung bình mỗi tỉnh có từ 2- 3 DN cung ứng giống, 20-30 cửa hàng bán giống, thì cả nước sẽ có khoảng 190 đơn vị kinh doanh giống (lớn) và trên 1.800 cửa hàng bán giống. Trong khi đó những DN sản xuất giống, nhất là giống lai chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Điều này lý giải vì sao các giống ngô lai, lúa lai ngoại đang làm mưa làm gió trên thị trường Việt Nam. Họ đưa ra bất cứ giá nào (tuỳ thuộc vào năng suất, chất lượng) người nông dân cũng phải chấp nhận. Mơ ước của nông dân Việt Nam về giá giống rẻ là điều xa vời, các công ty giống ngoại quốc sẽ còn thao túng thị trường Việt Nam đến khi nào thì không ai đoán được.
Ông Nguyễn Thanh Lâm - PGĐ TTKN Quốc gia đã phát biểu những lời gan ruột sau khi đi thăm cánh đồng SX lúa lai LC25, LC212, LC70 do Trung tâm Giống NLN Lào Cai chọn tạo: Chúng ta đang khuyến khích, lôi kéo các DN tham gia nghiên cứu, SX lúa giống. Nhưng nhiều DN không thiết tha, họ chỉ lo mua và bán giống. Sản xuất giống lúa lai đòi hỏi công nghệ cao và tốn kém rất nhiều tiền bạc, Lào Cai là một tỉnh nghèo nhưng đã dành một phần kinh phí đáng kể cho việc nghiên cứu, chọn tạo và tổ chức SX thành công giống lúa lai là việc làm rất đáng biểu dương…
TTGNLN Lào Cai từ nhiều năm nay đã phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu của nước ngoài lai tạo, SX một số tổ hợp lai. Năm 2009 SX được 315 tấn lúa lai F1: LC25, LC212, VL20, năm 2010 SX được gần 400 tấn giống lúa lai F1 các loại. Giống lúa LC212 đã được Cty CP Giống cây trồng Trung ương ký biên bản ghi nhớ mua bản quyền, nhưng với rất nhiều lý do đến nay việc mua bán đó vẫn dừng ở trên giấy.
| Từ năm 2008 Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc triển khai dự án “Tăng cường năng lực cải tiến giống và SX lúa vùng cao” tại các tỉnh: Hà Giang, Bắc Kạn, Yên Bái, Phú Thọ giúp các hộ nông dân SX một số giống lúa thuần chất lượng cao: N46, T10, Chiêm hương, HT1, BT13, DT122, KD18, Ải Lùn 32… là những giống lúa thuần do các nhà khoa học, các viện nghiên cứu lai tạo, chọn lọc từ nhiều vùng sinh thái khác nhau. Khi dự án chấm dứt thì các mô hình đó cũng dần teo đi, nông dân lại đi tìm mua các giống từ các đại lý, cửa hàng. |
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một số DN cung ứng giống chẳng cần giấu giếm: SX lúa giống không dễ dàng gì, chi phí lớn, thời gian quay vòng vốn lâu mà lờ lãi chẳng được bao nhiêu, trong khi đó rủi ro lại rất lớn. Mua và bán giống thời gian quay vòng vốn nhanh, đơn vị SX giống bảo hành cho mình nên không ngại lắm. Một số giống chúng tôi SX chỉ để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, giống như chuồn chuồn đập nước, chứ không thể liều lĩnh được…
Thị trường giống lúa lai mấy năm nay luôn luôn nóng, chúng ta đang trong vòng xoáy của sự thiếu hụt nguồn giống chất lượng cao, sự lệ thuộc vào nước ngoài khiến nông dân phải chịu giá cắt cổ. Bao giờ Việt Nam mới chủ động được nguồn giống? Bao giờ các DN mới thiết tha SX giống? Đó là những điều không dễ dàng trả lời được ngay.
LUAGAO - Đến hẹn lại lên, bắt đầu từ tháng 11 các DN cung ứng giống của Việt Nam lại lục tục kéo nhau lên cửa khẩu Lào Cai hoặc Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh) để thương thảo mua các loại giống lúa lai của Trung Quốc.
Theo dõi thị trường giống lúa mấy năm nay các DN Việt Nam đều ở thế yếu, nghĩa là không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận giá lúa do các DN của TQ đưa ra, giá lúa giống vụ xuân 2011 đang được phía đối tác thổi phồng…
Sự lệ thuộc giống lúa lai nhập khẩu từ TQ của nhiều địa phương và các DN kinh doanh giống ngày càng nhiều hơn. Những năm trước đây cửa khẩu Lào Cai là nơi nhập khẩu chính các giống lúa lai của Trung Quốc, có năm nhập đến 10.000-12.000 tấn. Các DN nhập khẩu giống của Việt Nam được các đơn vị SX giống của TQ mời đi tham quan, tiệc tùng, quà cáp đủ kiểu, cốt để mua giống của họ. Các DN phía TQ cũng rất thoáng, họ cho “gửi giá” thoải mái, nhờ thế mà nhiều GĐ DN phía Việt Nam giầu bốc lên nhanh chóng sau vài vụ nhập khẩu giống. Bởi giá lúa giống cao bao nhiêu thì nông dân chịu, chứ DN bán giống có phải chịu đâu?
Cty Giống cây trồng Thịnh Dụ chưa có người giao dịch |
Mấy năm nay các DN phía TQ bắt đầu tãi đầu mối bán hàng sang cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn chứ không chỉ bán qua cửa khẩu Lào Cai, khiến cho các DN của Việt Nam buộc phải chạy theo họ. Vì thế lượng giống lúa lai nhập qua cửa khẩu Lào Cai giảm xuống còn 7.000 rồi 6.000 tấn/năm, năm 2010 còn khoảng 3.500 tấn, trong khi đó cửa khẩu Móng Cái và Lạng Sơn lượng giống nhập qua đó lại tăng.
Khi nông dân và DN Việt Nam đã “nghiện” các giống lúa lai của TQ, thì khi đó giá giống được đẩy lên cao vút trời, xin nêu ví dụ: Giá lúa lai vụ xuân 2008: Giống phổ biến Nhị ưu 838 giá 10 nhân dân tệ/kg; vụ xuân 2009 giá lên 12-13 tệ/kg, tương đương 30.000-35.000đ/kg, còn một số giống độc quyền thì giá thấp nhất cũng 15 tệ/kg, tương đương 40.000-42.000đ/kg; vụ xuân 2010, Nhị ưu 838 giá trung bình 15 tệ/kg, nhưng thanh toán bằng đô la 1,8 USD/kg; vụ mùa 2010 giá Nhị ưu 838 được đẩy lên 18,5 tệ/kg.
Tất cả các DN của TQ đều thống nhất giá bán cho các DN của VN như vậy. Tuỳ từng DN có mối quan hệ “hữu hảo” lâu đời thì được bớt 1-1,5 giá. Họ kêu khan hiếm giống với những lý do đã quá quen thuộc: Động đất, hạn hán, mưa bão… nên mất mùa, một số tổ hợp giống phía TQ đã bỏ, chỉ SX bán cho Việt Nam thôi, nên giá thành cao. Ví như Nhị ưu 838 các DN phía TQ đều nói: Nông dân TQ không trồng giống lúa này, nên các đơn vị SX giống cũng không làm, họ làm để bán cho Việt Nam thôi…
Cty Giống Tứ Xuyên thì cửa mở he hé |
Mới đây PV NNVN đã có mặt tại Hà Khẩu tìm hiểu giá giống lúa lai. Cùng thời gian này mọi năm thì các văn phòng bán giống của TQ đã mở cửa, còn năm nay thì cửa đóng then cài, một số văn phòng có người nhưng không có phiên dịch, nên “sư bố tủng” (tôi không hiểu). Bà Nguyễn Thị Yên, GĐ Cty CP VTNN Lào Cai cho biết: Trước đây khoảng cuối tháng 9 các DN của TQ đã gọi điện cho mình nheo nhéo gạ mua hàng, hai năm nay thì không. Cuối tháng 10 tôi gọi điện cho mấy DN bán giống vào số điện thoại Việt Nam và TQ thì họ chả thèm nghe, còn người nghe thì trả lời chủng chẳng: Năm nay chưa biết thế nào đâu, tôi đang ở Tứ Xuyên nhá…; nghe mà tức.
Bà Yên nói thêm: Thứ bảy vừa rồi tôi có sang làm việc với Cty Giống Tân Tân, là bạn hàng truyền thống của Lào Cai, họ trả lời thế này: Năm nay thu hoạch gặp mưa, giống bị thối nhiều, Cty chỉ có khoảng 500 tấn Nhị ưu 838, nhiều DN Việt Nam đặt hàng, nên cũng chỉ bán cho mỗi DN một ít, giá 20 tệ/kg. Các DN Afghanistan mua tại ruộng đã 19 tệ/kg rồi, không phải kiểm nghiệm như ở Việt Nam, thanh toán bằng nhân dân tệ, chứ không phải bằng đô la nhá…
Ông Nguyễn Văn Vững, nguyên là GĐ TTG Yên Bái được một DN mời làm cố vấn đi thương thảo mua bán giống cho biết: Cty Tân Tân chỉ tiếp từng DN một, họ cho biết năm nay Cty chỉ có 280 tấn Nhị ưu 838, giá 20 tệ/kg nếu không mua thì trả lời ngay để họ bán cho DN khác. Nghĩa là họ chả cần mình, giá cả là như vậy, qui đổi ra tiền Việt Nam hiện đang là 3.050đ/tệ, thì mỗi cân giống trên 60.000đ, đắt quá trời.
Chúng tôi liên lạc với phiên dịch của Cty Long Bình, được người này cho biết: Năm nay lượng giống XK sang Việt Nam giảm 70%, Nhị ưu 838 có khoảng 600 tấn, Nhị ưu 63 khoảng 60 tấn, Nghi Hương 305 khoảng 80 tấn. GĐ kinh doanh quốc tế đang ở Tứ Xuyên chưa về Hà Khẩu nên chưa biết giá cả thế nào…Giá giống lúa lai của TQ đang được các đối tác thổi lên ngất trời, nhất là tình hình lũ lụt miền Trung khu vực SX lúa giống lớn của Việt Nam bị thiệt hại, càng tạo cơ hội cho các DN phía TQ làm nâng giá.
(Theo Báo NNVN)
LUAGAO - Với mục tiêu luôn áp dụng TBKT vào sản xuất để tăng cao năng suất chất lượng cây trồng, bước vào đầu vụ mùa này Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn, Nghệ An đã đưa giống lúa lai SL8H-GS9 vào gieo trồng khảo nghiệm. Kết quả năng suất đã cho thu hoạch được 7,08 tấn/ha, cao hơn giống lúa lai truyền thống 1,74 tấn/ha.
Hội thảo mô hình ngày 20/10/2010 được tổ chức trên đồng đất của xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Đàn đã thu hút hàng trăm cán bộ xã, HTX và bà con nông dân thuộc hai đơn vị ở thị xã Thái Hoà và huyện Nghĩa Đàn. Trạm trưởng Trạm bảo vệ thực vật và giống cây trồng Nghĩa Đàn, ông Nguyễn Viết Trung cho biết: Giống lúa lai 3 dòng SL8H-GS9 được lai tạo bởi tập đoàn SL Agritech Philipines, đơn vị nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam là Cty CP Đại Thành (trụ sở đóng ở Liên Bão - Tiên Du - Bắc Ninh). Giống lúa lai 3 dòng này đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống lúa tạm thời từ tháng 4/2010. Đây là cuộc khảo nghiệm lần đầu tiên tại tỉnh Nghệ An.
Ông Trung tiếp tục cho biết: Giống lúa lai SL8H-GS9 Trạm gieo trồng vào ngày 26/6/2010, với mật độ gieo cấy 40-45 khóm/m2. Giống đối chứng là lúa lai Nhị ưu 838. Trong thời gian gieo cấy, cây lúa gặp phải nắng hạn gay gắt, trong quá trình sinh trưởng thời tiết tiếp tục gây bất thuận nặng nề, sâu bệnh nói chung và sâu cuốn lá nói riêng đã bùng phát trên diện rộng, đến khi lúa trổ bông lại gặp phải mưa lũ. Những yếu tố đó đã làm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và sản lượng cây trồng.
Tuy nhiên qua theo dõi và đánh giá tại ruộng, hội thảo đã đưa ra kết quả: Thời gian sinh trưởng giống lúa SL8H-GS9 tương đương với lúa Nhị ưu 838 (từ 105-106 ngày). Đường kính gốc rạ SL8H-GS9 là 7 mm, Nhị ưu 5 mm. Chiều dài bông SL8H-GS9 23,5cm, Nhị ưu 22 cm. Chiều cao cây lúa SL8H-GS9 115 cm, Nhị ưu 110 cm. Trên thực tế giống lúa SL8H-GS9 đã thể hiện tính nổi trội hơn so với giống lúa Nhị ưu 838 như tính chống đổ khá, chống chịu tốt với điều kiện thời tiết bất thuận, khả năng đẻ nhánh khoẻ, tập trung, từ cấy 1 dảnh/khóm đến thu hoạch có 6 bông hữu hiệu/khóm.
Về sâu bệnh, trong vụ này do thời tiết bất thuận nên giống lúa SL8H-GS9 đã bị nhiễm nhẹ một số bệnh như sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu. Đặc biệt giống lúa mới này có tính chống chịu rất tốt với bệnh bạc lá. Trong lúc đó giống lúa Nhị ưu 838 bị nhiễm nặng sâu cuốn lá và nhiễm nặng bệnh bạc lá. Đối với năng suất, qua thống kê tại các nhóm nông dân kiểm tra trên ruộng khảo nghiệm đã cho thấy giống lúa SL8H-GS9 đã cho thu hoạch được 354 kg/sào (500m2), trong khi đó ruộng đối chứng Nhị ưu 838 chỉ thu được 267kg/sào.
Như vậy trong lần đầu tiên khảo nghiệm giống lúa SL8H-GS9 đã cho năng suất cao hơn giống lúa Nhị ưu 838 là 87 kg/sào(tức là cao hơn 1,74 tấn/ha.) Theo lý thuyết khuyến cáo nếu thời tiết thuận lợi và thâm canh tốt thì năng suất lúa LS8H-GS9 sẽ cho thu hoạch đạt 14 tấn/ha. Về chất lượng, qua sản phẩm do Cty CP Đại Thành cung cấp đã cho thấy giống lúa mới này có hạt gạo dài, cơm dẻo, vị ngọt đậm và mùi thơm đầy hấp dẫn. Theo đó Trạm BVTV & GCT Nghĩa Đàn đã lập kế hoạch tiếp tục nhân rộng vùng khảo nghiệm, để khẳng định tính ưu việt của lúa lai SL8H-GS9.
(Theo Báo NNVN)
Trong những năm qua, Cty CP giống cây trồng Thái Bình đã chọn tạo và du nhập tìm ra nhiều giống mới có năng suất cao và chất lượng gạo ngon, tính chống chịu tốt, có khả năng bổ sung vào cơ cấu giống của Quảng Ngãi, góp phần đa dạng và thay thế một số giống lúa có biểu hiện thoái hoá.
Vụ hè thu 2010, Cty CP giống cây trồng Thái Bình đã phối hợp với Phòng NN & PTNT huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) và HTX nông nghiệp Bình Dưong trồng khảo nghiệm 2 giống lúa TBR36, TBR45 với diện tích 1,5 ha tại đội 9, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đối chứng là giống NX 30 đã được trồng phổ biến tại địa phương.
TBR36, TBR45 là giống lúa do Cty CP giống cây trồng Thái Bình chọn tạo, đã được khảo nghiệm theo quy phạm khảo nghiệm quốc gia. Các giống lúa khảo nghiệm được bố trí trên chân đất vàn, đất thịt nhẹ (vùng sản xuất 2 vụ/năm, đảm bảo điều kiện tưới, tiêu chủ động). Lượng giống gieo sạ 80 kg/ha đối với các giống lúa TBR36, TBR45, và 100 kg/ha đối với giống NX30.
Theo báo cáo, đánh giá của Phòng NN & PTNT huyện Bình Sơn, vụ hè thu năm 2010 tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển, giai đoạn sau gieo sạ có gặp mưa nên ảnh hưởng đến mật độ gieo sạ nhưng được tỉa dặm kịp thời đảm bảo mật độ trên đơn vị diện tích. Do thực hiện đảm bảo các khâu chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại và cung cấp đầy đủ nước tưới nên các giống lúa khảo nghiệm sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung, nhánh hữu hiệu cao. Các giống khảo nghiệm đều có chiều cao cây trung bình (từ 99,4 cm – 111,6 cm) kiểu thể hình phù hợp với với điều kiện canh tác ở Quảng Ngãi. Chiều dài của bông khá. Về số bông/m2 các giống đạt trung bình (từ 361,3 - 393,1 bông); tuy nhiên số hạt trên bông của giống TBR45 cao nhất, tiếp đến là giống NX30, TBR36. Nhìn chung, các giống lúa đưa vào khảo nghiệm sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung, nhánh hữu hiệu cao, phù hợp với điều kiện canh tác ở Quảng Ngãi.
Ông Phạm Ngọc Quang - nông dân tham gia mô hình ở xã Bình Dương nói: Vụ hè thu 2010 tôi sản xuất thử 0,6ha giống lúa TBR45. Tôi thấy giống lúa này có sức sinh trưởng khoẻ, sức sống mạ cao, đẻ nhánh tập trung; cứng cây, kiểu lá gọn-đứng, tuổi thọ của lá cao. Giống này dễ làm, dễ chăm sóc. Dự kiến năng suất trên 75 tạ/ha.
Giống TBR36 do Cty CP giống cây trồng Thái Bình tuyển chọn từ vụ xuân 2004 trong tập đoàn lúa thường nhập nội. Tại miền Trung, TBR36 có thời gian sinh trưởng vụ đông xuân 95-100 ngày, vụ hè thu 90-95 ngày; năng suất trên 70 tạ/ha. Chiều cao cây 95- 105 cm, cứng cây, trỗ thoát, dạng hình đẹp, đẻ gọn. Trọng lượng 1.000 hạt 22gram, năng suất cao ổn định từ 65-75 tạ/ha, chống chịu sâu bệnh và chống đổ ngã tốt; thích ứng rộng, gieo trồng được cả 2 vụ/năm, thích hợp nhiều chân đất khác nhau.
Ông Trần Mạnh Báo - Tổng Giám đốc Cty CP giống cây trồng Thái Bình, khẳng định: “Các giống lúa TBR36, TBR45 chúng tôi đã khảo nghiệm ở các tỉnh phía Bắc và đã cho kết quả rất tốt, chất lượng gạo của 2 giống lúa này rất cao; được một số tỉnh đã đưa vào cơ cấu bộ giống lúa của địa phương".
Ngày 27/8 vừa qua, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình sơn phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị đầu bờ nhằm đánh giá khách quan tính ưu việt của các giống lúa nói trên. Tại Hội nghị, các đại biểu đánh giá 2 giống TBR 36, TBR45 có tiềm năng năng suất cao trên chân đất có thâm canh (năng suất bình quân TBR36 đạt 58,2 tạ/ha; giống TBR45 đạt 75,3 tạ/ha), chất lượng gạo ngon. Các giống lúa khảo nghiệm bước đầu có tính thích nghi cao và cho năng suất cao, tương đương với giống sản xuất đại trà (NX30). Các đại biểu cũng đề nghị Công ty CP giống cây trồng Thái Bình tiếp tục đưa 2 giống trên khảo nghiệm ở các vụ tiếp theo trên nhiều chân đất và vùng sinh thái khác nhau của huyện Bình Sơn và một số huyện trong tỉnh Quảng Ngãi, qua đó có căn cứ đánh giá sát đúng hơn, theo dõi chọn ra những giống thích nghi nhất để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh.
(Theo Báo NNVN)
LUAGAO - Giống lúa PAC 807 là giống lúa lai, có nguồn gốc Ấn Độ, cây cao từ 90-105cm, chống đổ ngã tốt, đẻ nhánh khoẻ, bông, đạt 160-170 hạt chắc/bông, trọng lượng 1.000 hạt 24 gram.
Hạt gạo nhỏ, dài, không bạc bụng, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; cơm nở mềm, ngon. Có thể trồng quanh năm, thời gian sinh trưởng chỉ 85-95 ngày (tuỳ theo thời vụ và vùng gieo sạ). Chống chịu tốt bệnh đạo ôn, rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Năng suất 70-80 tạ/ha (thâm canh tốt đạt 100-110 tạ/ha).
Vụ hè thu 2010, Cty CP giống cây trồng miền Nam phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bình Sơn và HTX NN Bình Long (Bình Sơn - Quảng Ngãi) đã trình diễn giống lúa lai PAC 807 tại 2 hộ ở đội 6, xã Bình Long. Bà Nguyễn Thị Hoa - nông dân tham gia mô hình cho biết: Ưu điểm của giống lúa lai PAC 807 là đẻ nhánh khoẻ, thời gian sinh trưởng vụ hè thu này từ 87-90 ngày; kháng rầy nâu, đạo ôn, giảm chi phí thuốc BVTV. Năng suất đạt 70-75 tạ/ha, cao hơn các giống khác trên cùng chân đất. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 3, trong những ngày qua có mưa to và gió lớn đã làm một số diện tích lúa trong mô hình bị đổ ngã làm tốn thêm công thu hoạch.
Theo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bình Sơn, giống PAC 807 có chiều cao cây trung bình, là kiểu hình phù hợp với điều kiện canh tác ở Quảng Ngãi. Giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt, chịu thâm canh, rất có triển vọng.
(Theo NNVN)
LUAGAO - Giới thiệu bài viết đăng trên Báo NNVN về Lúa Lai
Nghề sản xuất giống lúa lai tưởng dễ ăn vì sản phẩm giống lai luôn đắt. Thế nhưng không ít doanh nghiệp đã phải chịu những cú sốc thất bại có thể nói khó gượng dậy nổi với cái nghề tưởng dễ ăn này.
1. Cay đắng chuyện người tiên phong “Nam sản Bắc tiêu”
Sản xuất hạt lúa lai F1 tại Công ty CP Giống nông lâm nghiệp Quảng Nam. Ảnh: Ngọc Khanh
Nói về nghề sản xuất giống lúa lai, “cái nôi” đầu tiên phải kể đến là Nam Định. Nam Định vào giữa những năm 1990, khi một số tỉnh mới tập tành làm giống lúa lai thì tỉnh này diện tích lúa F1 lên con số trên vài trăm ha/năm. Nam Định trở thành điển hình với những HTXNN tự tổ chức sản xuất hạt lai F1 nức tiếng. Ngày đó giống làm chỉ là Bác ưu 64, sau đó là Bác ưu 903, những giống cảm quang chỉ cấy vụ mùa.
Thời hoàng kim làm lúa F1 ở Nam Định kéo dài 6-7 năm rồi suy dần, và nay diện tích còn không đáng kể. Nguyên nhân không nằm ở khâu kỹ thuật, bởi cho đến nay phải nói tay nghề của nhiều HTX tại Nam Định vẫn là số một. Đó là bởi lúa F1 làm ra lúc đó rất khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại nhập từ Trung Quốc vì tâm lý “sính ngoại” và nhiều lý do tế nhị khác trong đó có chuyện cấu kết gửi giá của không ít DN nhập khẩu. Một lý do nữa là thời vụ. Lúa giống làm ở Nam Định gặt muộn, trong khi vụ mùa thời gian thì gấp rút, có nơi gặt lúa xuân đến đâu, gieo cấy lúa mùa đến đó, vì vậy lúa giống Nam Định gặt, làm sạch phơi khô đóng gói xong thời vụ đã sắp hết. Như đã nói, lúa lai hệ Bác ưu chỉ làm được vụ mùa, giống bán không hết buộc phải chờ vụ mùa năm sau, chi phí bảo quản quá lớn HTX nào chịu nổi...
Đằng sau một thất bại sẽ có vô số kinh nghiệm rút ra. Đã không ít người tâm huyết với nghề suy nghĩ rằng, cần phải sản xuất giống lúa lai khu vực phía Nam để cung cấp giống cho miền Bắc. Người ta có lý khi cho rằng làm giống các vùng phía Nam sẽ thuận lợi vì thời tiết ổn định, thu hoạch sớm hơn phía Bắc 1-2 tháng, từ đó đưa ra Bắc là vừa. Đó là ý kiến hay và dựa vào đó, câu “Nam sản Bắc tiêu” (SX giống lúa lai ở miền Nam, tiêu thụ tại miền Bắc) ra đời.
Chúng tôi nhớ một trong số các đơn vị vào miền Nam sản xuất giống là Cty Nông nghiệp Hữu Cơ (Hà Nội). Cty này với sự trợ giúp về kỹ thuật của KS. Phạm Văn Ngữ, nguyên Trại trưởng Trại giống cây trồng Đồng Văn (Cty Giống cây trồng Trung ương) - một trong những bậc thầy về cây lúa lai lúc bấy giờ, đã vào vùng Cờ Đỏ - Cần Thơ khảo sát và thí điểm làm lúa F1. Đáng tiếc, việc thí điểm đó bị thất bại, bởi lúa lai Trung Quốc kháng rầy kém, vùng Cần Thơ dù đất vô cùng tốt, nhiệt độ hoàn hảo, chỉ có điều lúa lai bố mẹ mọc đến đâu rầy xơi cháy sạch đến đó. Cty Nông nghiệp Hữu Cơ làm thử đúng một vụ, đầu tư mất mấy trăm triệu phải tháo lui vì nạn rầy nâu phá hoại.
KS. Phạm Văn Ngữ, một người rất tự tin về chuyên môn nông nghiệp vẫn kiên định với lý thuyết “Nam sản Bắc tiêu”. Theo đó, ông bỏ vốn tự lập công ty riêng, tiếp tục khảo sát các vùng đất phía trong đèo Hải Vân để thí điểm làm lúa lai F1. Xác định từ Bình Định trở vào thì lúa rất dễ bị dịch rầy nâu, từ đó KS. Phạm Văn Ngữ chọn Quảng Nam và Tây Nguyên để thí điểm sản xuất giống lúa lai 3 dòng: Bác ưu 903 và Nhị ưu 838. Thành công ngoài mong đợi, năng suất hạt lai F1 lên đến trên 3 tấn/ha (nếu SX ở ngoài Bắc cao lắm đạt 2,5 tấn/ha F1), lúa thu hoạch vào cuối tháng tư nắng đẹp, chất lượng độ thuần đảm bảo, đóng gói đưa ra miền Bắc bán được giá cao, thời vụ đảm bảo (lúa vùng Quảng Nam gặt sớm hơn khu vực phía Bắc 1 tháng). Từ thành công bước đầu, ông Ngữ chỉ đạo công ty sang năm làm lớn tại Quảng Nam, thí điểm thêm ở Quảng Ngãi và Đăk Lăk, trong đó riêng Quảng Nam là gần 300 ha. Đó là năm 2001, một năm “ngã đau” của giám đốc Phạm Văn Ngữ, gây một cú sốc lớn trong ngành sản xuất giống lúa lai.
Đầu tháng 4 năm đó, ông Ngữ mời tôi vào Quảng Nam thăm lúa, đi cùng còn có các “cố vấn” kỹ thuật của công ty ông như KS. Nguyễn Thế Nữu, KS. Võ Văn Xuân, đó là những tên tuổi lẫy lừng. Với đội ngũ cố vấn và chỉ đạo kỹ thuật giàu kinh nghiệm, công việc sản xuất lúa lai F1 với giám đốc Phạm Văn Ngữ không thành vấn đề, dù trên một diện tích rất lớn, trên 300 ha, điều chưa hề có trong lịch sử sản xuất giống lúa lai tính đến thời điểm đó khi một công ty tư nhân dám “ôm” diện tích sản xuất lớn như vậy.
Nắng và lúa Quảng Nam vụ đó đẹp làm sao. Trên đồng Điện Bàn nơi chúng tôi đến, những ruộng F1 sắp thu hoạch phẳng phiu được KS. Võ Văn Xuân, cán bộ Trung tâm Khảo kiệm nghiệm GCT TW đánh giá độ thuần rất khá. Vui hơn là năng suất hạt F1 đạt rất cao, trung bình 3,5 tấn/ha, có ruộng thậm chí đạt trên dưới 5 tấn/ha, là chuyện không ai tin trong giới làm lúa lai F1 nếu không trực tiếp chứng kiến. Các HTX hợp đồng làm giống với Giám đốc Ngữ cũng sẽ trúng to. Vì theo hợp đồng, phía công ty chịu toàn bộ giống bố mẹ, hóa chất kích thích tăng trưởng như GA3, HTX chỉ bỏ công và một phần phân bón, thuốc BVTV; công ty có trách nhiệm mua lại toàn bộ sản phẩm quy đổi 1kg hạt lai F1 bằng 4kg thóc thương phẩm. NS F1 đạt 3,5 tấn/ha, đồng nghĩa HTX thu về tương ứng 14 tấn thóc thường/ha, quy tiền theo giá thị trường, đó là thu nhập trong mơ. Về phía công ty, với khoảng trên 330 ha lúa F1, vụ đó họ thu gần 1.200 tấn giống; giả sử bán được giá 25.000 đ/kg, thu 30 tỷ, trừ chi phí còn lãi một nửa.
Nhưng thật ở đời ai lường hết chữ ngờ, câu này ứng vào một người tài năng và tâm huyết như ông Phạm Văn Ngữ quả thật xót xa. Trên ngàn tấn lúa giống F1 ông tổ chức làm ra nhưng bán không được. Một lần nữa tâm lý sính ngoại (giống Trung Quốc) đi cùng nạn móc ngoặc gửi giá nhan nhản thời đó đã bóp chết sản xuất trong nước. Cũng có thể còn do nguyên nhân nữa là ông Ngữ làm lớn quá. Vụ mùa miền Bắc nhu cầu chỉ cần 6-7 ngàn tấn giống F1, trước đó công ty cấp tỉnh nào cũng đã có kế hoạch với đối tác Trung Quốc rồi, nay bỗng đâu “dôi” trên ngàn tấn giống từ Quảng Nam chuyển ra, ai mua?
Hàng làm ra không bán được, ông Ngữ không thể thu mua cho các HTX. Thế là kiện. Thế là ông bại sản…
2. Bạc mặt vì giống lúa lai 10 tỷ
| Gần 700 ha SX giống lúa lai 2 dòng F1 tại Quảng Nam vụ ĐX 2010 hỏng hoàn toàn do dòng mẹ tự thụ. Ảnh: Ngọc Khanh |
Giống lúa lai có 2 loại: 2 dòng và 3 dòng. Hầu hết bộ giống lúa lai Trung Quốc có mặt ở Việt Nam là lúa lai 3 dòng. Lúa lai 3 dòng bao gồm dòng bố, dòng mẹ và dòng duy trì R. R là dòng đẳng gen với dòng mẹ, có nhiệm vụ duy trì lúa mẹ (bất dục) cho các đời sau. Lúa lai 3 dòng rất khó làm, đặc biệt là việc duy trì dòng mẹ bất dục. Bù lại sản xuất hạt F1 (bố x mẹ) không quá phải lệ thuộc thời tiết như lúa lai 2 dòng. Năng suất thương phẩm cũng cao hơn và ổn định thể hiện ưu thế lai tốt hơn.
Thời gian qua các nhà khoa học Việt Nam tốn không ít công sức, Nhà nước đầu tư không ít tiền của nhưng thực tế thành công trong tạo giống lúa lai 3 dòng của chúng ta chưa được như mong muốn. Quanh quẩn ta chỉ có vài ba giống có nguồn gốc Viện lúa Quốc tế (IRRI) như HYT 83, HYT 100, HYT 103 do Trung tâm NC lúa lai (Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm). Ưu điểm của bộ giống HYT là năng suất, chất lượng khá cao, nhưng năng suất khi làm giống F1 không cao do vòi nhụy dòng mẹ quá ngắn, tỷ lệ kết hạt thấp. Vì khó làm giống F1 nên bộ giống lúa lai HYT ra đời đã nhiều năm nhưng thực tế đóng góp trong sản xuất chưa nhiều. Với một số giống 3 dòng của Trung Quốc, điển hình là nhóm Bác ưu và Nhị ưu, một số DN và cơ quan nghiên cứu tuy đủ khả năng duy trì các dòng bố mẹ cùng quy trình sản xuất F1. Tuy nhiên đây là các giống quá cũ, cũng không còn đóng góp nhiều cho sản xuất.
Vì không thành công trong tạo giống lúa lai 3 dòng, nên khi các nhà khoa học của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội tạo ra một loạt giống lúa lai 2 dòng lập tức được dư luận chú ý. Đó là bộ giống lúa lai 2 dòng nổi tiếng Việt lai 20, Việt lai 24, Việt lai 50… do PGS.TS Nguyễn Văn Hoan đứng đầu nghiên cứu; một bộ giống lai 2 dòng khác cũng của Đại học NN Hà Nội là TH3-3, TH3-4… của tác giả GS.TS Nguyễn Thị Trâm cũng rất nổi tiếng. Ưu điểm của lúa lai 2 dòng là ngắn ngày (vụ mùa chỉ trên dưới 100 ngày), năng suất tương đối cao, và một điểm không thể bỏ qua là sản xuất giống F1 – nhìn chung là dễ nếu thời tiết thuận lợi. Giống lúa lai 2 dòng kể từ khi ra đời, chỉ cần lợi thế ngắn ngày đã dễ dàng chen chân vào đất lúa có cơ cấu vụ đông. Kể từ đó diện tích lúa lai 2 dòng ngày một tăng, nhu cầu mỗi năm hàng ngàn tấn giống F1. Từ đó xuất hiện hàng loạt mỹ từ được dành cho lúa lai 2 dòng của Việt Nam, có người cao hứng nói đấy là sản phẩm trí tuệ đẳng cấp thế giới. Một khi giống đem lại lợi nhuận, lập tức bản quyền giống tăng vùn vụt. Đỉnh cao nhất là giống lúa lai 2 dòng TH3-3 của GS.TS Nguyễn Thị Trâm được Cty TNHH Cường Tân (Nam Định) mua bản quyền với cái giá điên rồ: 10 tỷ đồng!
Tiếc thay, khi người ta quá chăm chú vào ưu điểm, đương nhiên nhược điểm dễ bị bỏ qua. Nhược điểm lớn nhất của lúa lai 2 dòng là dòng mẹ muốn bất dục hay không lệ thuộc vào nhiệt độ. Hiểu nôm na dòng mẹ trong lúa lai 2 dòng là thứ “lưỡng tính”, trong giai đoạn phân hóa đòng, nếu nhiệt độ thấp dưới 24 độ C thì cây mẹ sẽ hữu dục (lúa trổ, tự thụ phấn như một cây lúa thường); nếu nhiệt độ cao trên 24 độ C, thì nó mới bất dục thành một cây mẹ đúng nghĩa để nhận phấn từ lúa bố thụ tinh kết ra hạt lai F1. Chính vì sự đỏng đảnh đó, người ta buộc phải chọn vùng và chọn thời điểm để sản xuất hạt F1 lúa lai 2 dòng khá cầu kỳ, làm sao giai đoạn đòng trỗ đừng gặp rét. Nếu gặp rét, coi như ruộng giống bỏ đi vì dòng mẹ tự thụ.
Để ý về lúa lai nhiều năm, chúng tôi nhận thấy lúa lai 2 dòng thường có độ thuần đồng ruộng không tốt, dễ thấy nhất là tỷ lệ cây cao cây thấp nhiều ruộng khá cao. Đó là thực tế mà có chuyên gia cho rằng, do dòng mẹ mẫn cảm nhiệt độ nên cho dù điều kiện ngoại cảnh tối ưu mấy thì dòng mẹ vẫn không bất dục triệt để, dẫn đến lúa không đạt độ thuần như mong muốn. Có thể đấy là nguyên nhân lý giải tại sao Trung Quốc, đất nước của lúa lai, có nhiều chuyên gia siêu giỏi về lúa lai vẫn không mặn mà tạo giống lúa lai 2 dòng, nhường “sân chơi” này cho các nhà khoa học Việt Nam báo cáo trong một số hội nghị lúa lai quốc tế.
Đỉnh núi càng cao vực càng thăm thẳm. Năm nay, chính thành tựu lúa lai 2 dòng đề cao bấy lâu lại khiến một số DN đứng trước miệng vực phá sản.
Vẫn lại là cái nôi “Nam sản” Quảng Nam. Người ta tính rằng, sản xuất lúa lai 2 dòng ở phía trong đèo Hải Vân thì sẽ yên tâm không gặp rét nhất là lại vào tận giữa tháng ba trở đi khi lúa phân hóa đòng. Một số vụ liền sản xuất lúa lai 2 dòng ở đây đạt năng suất cao, độ thuần đảm bảo càng minh chứng lý thuyết đó đúng. Vụ xuân 2010, 3 DN là Cty TNHH Cường Tân với giống TH3-3; Cty CP Nông nghiệp kỹ thuật cao Hải Phòng với giống Việt lai 20; Cty CP Giống cây trồng TW với giống TH3-4. Tổng diện tích sản xuất lúa lai 2 dòng của 3 công ty: gần 700 ha. Kết quả sản xuất: hỏng toàn bộ vì dòng mẹ tự thụ do giai đoạn phân hóa đòng gặp gió mùa bất thường, nhiệt độ xuống thấp. (Báo cáo tại Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất hạt lai F1 vụ ĐX 2010 ngày 22/4/2010 tại Đăk Lăk, Cục Trồng trọt tổ chức).
Đây đúng là thiệt hại lớn chưa từng có trong ngành sản xuất giống lúa lai từ trước đến nay, được ví như thiên tai địch họa. Gần 700 ha lúa F1 lâm nạn, tương ứng gần 2.000 tấn giống F1 (đủ gieo cấy 50.000 ha) trị giá 70-80 tỷ đồng bị mất. DN thiệt hại đã đành, nông dân, xã hội cũng bị ảnh hưởng, chỉ vì một đợt gió mùa tràn về bất thường không ai lường nổi.
Chợt nghĩ đến ông Đoàn Văn Sáu, GĐ Cty TNHH Cường Tân, người bỏ ra 10 tỷ mua bản quyền giống TH3-3, lời lãi chưa đếm được bao nhiêu đã phải chịu mất trắng hàng trăm ha lúa giống…
-----
Theo Báo NNVN
Thời gian sinh trưởng 130 – 132 ngày trong vụ xuân, 105 – 110 ngày vụ mùa. Dạng hình đẹp, cứng cây, chịu thâm canh cao, lá dầy đứng, màu xanh trung bình. Năng suất cao, ổn định ở các vùng, vụ mùa 2008, năng suất trung bình tại 4 vùng đạt 72,2 tạ/ha, tương đương Nhị ưu 838, cao nhất đạt 86,3 tạ/ha tại điểm khảo nghiệm Thanh Hóa. Về chất lượng, giống Nam Dương 99 có chất lượng gạo tương đương D.ưu 527, dạng hạt dài thon hơn Nhị ưu 838, tỷ lệ xát của Nam Dương 99 đạt 70,6%, cao hơn hẳn Nhị ưu 838 và D.ưu 527. Về khả năng chống chịu sâu bệnh: Trong điều kiện sản xuất vụ mùa 2007 và 2008, theo kết quả khảo nghiệm của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, SPCT & PB Quốc gia, giống Nam Dương 99 nhiễm bệnh khô vằn và rầy nâu nhẹ hơn giống đối chứng Nhị ưu 838, đặc biệt với bệnh bạc lá Nam Dương 99 không nhiễm đến nhiễm nhẹ ở hầu hết các điểm khảo nghiệm (điểm 0 – 1). Sau khi giống Nam Dương 99 được công nhận cho sản xuất thử, vụ xuân 2010, Công ty TNHH Nam Dương đã triển khai sản xuất thử ở nhiều tỉnh đại diện cho vùng ĐBSH và miền Bắc; xây dựng mô hình trình diễn ở những điểm mới, hợp đồng chuyển giao cho các địa phương đã sản xuất thử có kết quả tốt. Ông Ngô Văn Dương, giám đốc Công ty TNHH Nam Dương cho biết: công ty giao cho cán bộ kỹ thuật phối hợp, triển khai tập huấn kỹ thuật trước gieo cấy cho nông dân, nhất là những địa phương gieo cấy giống Nam Dương 99 lần đầu để nông dân chủ động gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật của giống. Trong từng thời điểm sinh trưởng phát triển của lúa, cán bộ kỹ thuật của công ty phối hợp với cán bộ kỹ thuật của địa phương thăm đồng và thống nhất điều chỉnh các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cho từng diện tích gieo cấy. Vụ này, theo nhận định của các địa phương, năng suất của Nam Dương 99 đều đạt trên 75 tạ/ha, là một trong những giống lúa lai nằm trong tốp dẫn đầu về năng suất. Ấn tượng nhất trong vụ sản xuất này cũng như một số vụ trước là khả năng kháng rầy của giống Nam Dương 99. Cụ thể, vụ xuân 2010 tại huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định gieo cấy giống Nam Dương 99 trên 150ha, trong đó xã Giao Yến gieo cấy 25 ha, đây là tâm điểm của bệnh lùn sọc đen tại Nam Định nhưng toàn bộ diện tích trồng Nam Dương 99 đều không bị rầy gây hại, đương nhiên không bị lùn sọc đen. Ông Đoàn Văn Đồng, chủ nhiệm HTXDVNN Giao Yến cho biết: Đặc thù vùng này là lúa hay bị nhiễm rầy, bệnh lùn sọc đen rất nặng, qua thông tin đại chúng biết được giống Nam Dương 99 có khả năng chống chịu rầy rất tốt, năng suất cao nên chúng tôi đã mang về sản xuất thử, đúng là cầu được ước thấy! Gặp bác Lâm Đình Thám - nông dẫn xã Giao Yến đang thăm đồng, biết chúng tôi về thăm giống lúa Nam Dương 99, bác rất hào hứng: “Đây là năm đầu tiên gia đình tôi cấy giống Nam Dương 99 theo khuyến cáo của HTX, thực sự lúc đầu cũng lo lắng vì chưa hiểu về giống nhưng khi được tư vấn tôi đã mạnh dạn cấy 6 sào và cho đến thời điểm này có thể khẳng định đây là giống năng suất nhất xã tôi, vừa rồi mấy anh khuyến nông đã gặt điểm ruộng nhà tôi, đạt gần 3,2 tạ/sào, bênh cạnh đó nó còn rất sạch sâu bệnh…”. Tại Hưng Yên, vụ xuân 2010 giống Nam Dương 99 được đưa vào chương trình khảo nghiệm, trình diễn, với diện tích khoảng 10 ha. Theo báo cáo kết quả của Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư tỉnh, giống Nam Dương 99 gieo thẳng thời gian sinh trưởng vụ xuân 2010 chỉ 125 – 128 ngày, còn gieo mạ nền cứng cấy mạ non khoảng 130 ngày, lúa sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, gọn cây, góc lá đứng, cứng cây chống đổ tốt, lúa trỗ tập trung, độ thuần đồng ruộng cao, năng suất mô hình gieo mạ nền cứng cấy mạ non đạt 77,8 tạ/ha, mô hình gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng đạt 80 tạ/ha. Tại xã Ngũ Lão, huyện Kim Động, nông dân cấy chân ruộng nước ngập quanh năm, độ sâu trên 20cm, cho thấy giống Nam Dương 99 tỏ ra rất thích nghi, sinh trưởng phát triển tốt, ít bị sâu, bệnh gây hại, năng suất cao nhất trong các giống lúa ở chân ruộng này (cả lúa lai và lúa thuần). Về khả năng chống đổ, ngày 10 và 15/5/2010 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có mưa lớn kèm gió to, Kim Động là địa phương có nhiều diện tích lúa đổ nhất, có nhiều giống lúa lai tham gia khảo nghiệm trình diễn bị đổ, chỉ có giống N.ưu 69, Nam Dương 99 là không bị đổ, đây là một trong những đặc điểm tốt, nông dân lựa chọn cấy vụ mùa. Tổng kết, đánh giá về giống lúa Nam Dương 99, cho thấy giống có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng thích ứng rộng, kháng đạo ôn, nhiễm khô vằn, bạc lá, rầy nâu rất nhẹ, cứng cây chống đổ tốt, là những đặc tính rất quý trong bối cảnh bệnh nguy hiểm lùn sọc đen đang phát sinh gây hại, và nhất là trong sản xuất vụ mùa hay gặp mưa to gió lớn gây đổ ngã. Với những kết quả trên mặc dù việc đưa lúa lai vào sản xuất trong vụ mùa đang có xu hướng giảm nhưng vụ mùa 2010 giống lúa Nam Dương 99 vẫn được nông dân nhiều địa phương lựa chọn để gieo cấy. Ông Ngô Văn Dương cho biết dù mới công nhận sản xuất thử nhưng công ty nhập 70 tấn giống (gieo cấy hơn 2.000ha) mà vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Mong muốn của công ty là được Bộ Nông nghiệp & PTNT sớm công nhận chính thức Nam Dương 99, đưa vào danh mục giống cây trồng được sản xuất kinh doanh để công ty nhập giống với số lượng lớn hơn đáp ứng nhu cầu các địa phương. Nguyễn Tuấn Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/55302/Default.aspx |
Công ty Đầu tư Phát triển Việt Hoa là một cái tên đã quá quen thuộc với thị trường giống tại Việt Nam bởi xuất hiện gần như tiên phong trong những ngày cây lúa lai còn chập chững lần dò từng bước đi, khi mà nông dân Việt nhiều người nói đến cây lúa lai còn không biết “mồm ngang, mũi dọc” nó ra sao.
Giờ đây, khi lúa lai đã là một loại cây trồng không thể thay thế, khi diện tích canh tác lúa lai đã rất lớn nhất là ở miền Bắc và miền Trung nước ta, Việt Hoa lại tung ra một “vũ khí bí mật” là giống lúa thuần Hoa Ưu 109. Nhiều người trong giới buôn giống khi biết Hoa Ưu 109 là lúa thuần tỏ ý nghi ngờ rằng, tại sao lại lấy sở đoản (lúa thuần) mà địch lại sở trường (lúa lai) vốn là thế mạnh của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc? TQ là cái nôi của lúa lai thế giới. Họ có đội ngũ cán bộ chuyên môn tốt, cơ sở vật chất nghiên cứu chuyên nghiệp, có những vùng sản xuất ổn định, có nông dân đã quen sản xuất giống, tại sao giờ Việt Hoa lại lấn sang lúa thuần? Không sợ “ôm đầu máu” mà tháo chạy khỏi thị trường sao?
Tôi có hỏi ông Chung Tác Ninh - Giám đốc Cty Việt Hoa câu ấy, ông cười cười rồi nói bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ, đặc trưng của người gốc Tầu rằng: “Sản xuất lúa lai khó, chi phí lại rất cao nên giá bán đắt, nông dân khó chấp nhận. Mục đích chính của chúng tôi khi tung ra Hoa Ưu 109 là phải thay thế những giống lúa thuần như Khang Dân, Q5. Những giống này vào VN khoảng 18 năm nay rồi, đã lạc hậu quá rồi, bị thoái hoá, chất lượng kém, nhiễm sâu bệnh nhiều…”.
Một sáng sớm, ông Ninh rủ tôi đi xem Hoa Ưu 109 do Trung tâm Khuyến nông Thái Bình khảo nghiệm. Giữa hàng chục bộ giống, lai có, thuần có đang khảo nghiệm trên đồng ruộng người ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt của Hoa Ưu 109. Nó khá thấp cây, bộ lá cứng, hạt thon dài-một chỉ thị của giống lúa có chất lượng khá. Đại diện của Trung tâm Khuyến nông Thái Bình cũng có nhận xét bước đầu khá tốt về Hoa Ưu 109 như có khả năng thâm canh tốt hơn Khang Dân, năng suất cao hơn cỡ 15% và nhất là hạt gạo trong, ít bạc bụng, chất lượng hơn hẳn Khang Dân.
Trong một nghiên cứu khá tỉ mỉ của mình, kĩ sư nông học Tạ Thị Vân - Trại thực nghiệm Tây Mỗ - Trường Trung học Nông nghiệp Hà Nội, người trực tiếp nhận khảo nghiệm giống lúa Hoa Ưu 109 của Việt Hoa với mục đích nhằm tìm ra giống lúa thuần có thể thay thế bộ giống thuần đã quá cũ kỹ với nông dân Việt Nam. Hai giống đem đối chứng, “thượng đài” cùng Hoa Ưu 109 là hai nhánh riêng biệt: năng suất ổn định và phổ thông có Khang Dân; nhánh chất lượng có Hương Thơm số 1. Tất cả đều được đem ra so kè từng ly, từng tí ở nhiều tiêu chí đánh giá trong vụ xuân năm 2010. Phương pháp được áp dụng ở đây là thí nghiệm đồng ruộng, mỗi giống 100m2 không nhắc lại. Các yếu tố về đất đai, phân bón, nước kỹ thuật, chăm sóc đảm bảo giống nhau theo đúng qui trình kĩ thuật.
Kết quả khảo nghiệm, ở cùng điều kiện khá bất lợi là vụ đông xuân năm 2010 thời tiết tháng 2 tháng 3 nắng nhiều nhiệt độ cao, lượng mưa ít so với mọi năm nhất là giai đoạn lúa làm đòng và trỗ, nhìn chung Hoa Ưu 109 là giống sinh trưởng phát triển tốt. Hoa Ưu 109 đẻ gọn, dạng hình thấp cây, bộ lá đẹp, lá đứng gọn, khả năng chống chịu khá, chống rầy, khô vằn, kháng đạo ôn, không thấy bạc lá, chống đổ (vì thấp và cứng cây-PV) tốt so với đối chứng. Về thời gian sinh trưởng ngắn hơn Khang Dân 18 từ 6-10 ngày và ngắn hơn Hương Thơm số 1 từ 12-18 ngày.
Tỷ lệ lép của Hoa Ưu so với các giống đối chứng không có biến động lớn. Chất lượng: giống Hoa Ưu 109 chất lượng tốt hơn Khang Dân 18. Về năng suất: giống Hoa Ưu 109 có năng suất hơn hẳn các giống đối chứng từ 10-15%. Kết luận của kỹ sư Vân cho khảo nghiệm Hoa Ưu 109 là giống lúa phản ứng chặt với điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, thích ứng rộng. Có khả năng chống chịu tốt, rất có tiềm năng, năng suất cao, hạt đẹp, tỷ lệ bạc bụng ít, chất lượng gạo khá. Không chỉ ở quy mô hẹp trong khảo nghiệm mà nhiều địa phương sản xuất thử Hoa Ưu 109 đã cho thấy tín hiệu khá khả quan. Tại xã Cần Kiệm – huyện Thạch Thất (Hà Nội), năng suất bình quân của Hoa Ưu 109 đạt 69.82 tạ/ha. Tại xã Đồng Tâm – Huyện Mỹ Đức (Hà Nội) đạt năng suất bình quân đạt 68.04 tạ/ha...
2. Giống lúa lai chất lượng Thụy Hương 308 và CNR 6206
Mới đây, UBND huyện Thiệu Hóa phối hợp với Cty cổ phần giống cây trồng Trung ương tổ chức hội nghị đầu bờ 2 giống lúa lai mới chất lượng cao của Trung Quốc là Thụy Hương 308 và CNR6206 tại xã Thiệu Vận, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
Mặc dù thời tiết vụ xuân năm 2010 có nhiều bất thuận ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nhưng 2 giống lúa lai trình diễn là Thụy Hương 308 và CNR6206 vẫn cho năng suất cao thể hiện ưu thế tốt hơn so với đối chứng là Nhị ưu 63. Theo đánh giá của các đại biểu tham dự hội nghị, giống lúa lai Thụy Hương 308 và CNR6206 có chiều cao cây trung bình, chống đổ tốt, ít bị sâu bệnh hại, đặc biệt không thấy bệnh đạo ôn xuất hiện. Thụy Hương 308 và CNR6206 đều là những giống lúa lai cực kỳ chất lượng: Hạt gạo dài, trong bóng, không bạc bụng, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hiện nay. Kết quả năng suất thực tế của giống lúa lai Thụy Hương 308 là 79,8 tạ/ha và CNR6206 là 77,3 tạ/ha do Trạm Khuyến nông huyện Thiệu Hóa thực hiện tại mô hình, cao hơn 9 - 14% so với đối chứng Nhị ưu 63 (69,8 tạ/ha). Nhận xét về giống CNR6206, nông dân Thiệu Thị Huệ, thôn 3, xã Thiệu Vận nói: "Nhiều năm làm lúa nhưng chưa thấy vụ nào có được những khóm lúa tốt như thế này. Nhìn những bông lúa, hạt nặng trĩu, thật vui". Giống lúa lai chất lượng cao Thụy Hương 308 đã được Bộ NN-PTNT công nhận tạm thời năm 2008 và đã qua 3 vụ sản xuất thử thành công. Giống lúa CNR6206 đã được đăng ký khảo nghiệm Quốc gia và trình diễn ở 3 miền Bắc - Trung - Nam đều đạt kết quả tốt, được bà con nông dân đánh giá cao. CNR6206 là giống ngắn ngày, trồng được cả 2 vụ nên rất có triển vọng phát huy được ưu thế tại nhiều địa phương, đặc biệt ngay trong vụ mùa sắp sửa diễn ra. * Muốn thử nghiệm 2 giống lúa lai đặc biệt chất lượng trên trong vụ mùa 2010 này, các địa phương và bà con có thể liên hệ Cty CP Giống cây trồng Trung ương: ĐT 0913207662. Nguồn: Theo Nông Nghiệp Việt Nam
LUAGAO - Vụ ĐX 2009 – 2010, các doanh nghiệp trên cả nước đã tiến hành sản xuất hạt giống lúa lai F1 với diện tích rất lớn. Tuy nhiên do ảnh hưởng của thời tiết bất thuận nên đã có nhiều diện tích giống bị ảnh hưởng đến chất lượng. Ngày 22/4, tại Đăk Lăk, Cục Trồng trọt đã tổ chức hội nghị đánh giá tình hình sản xuất hạt lai F1 vụ ĐX 2010 và triển khai kế hoạch sản xuất vụ mùa.
Diện tích tăng mạnh
Do tình hình khan hiếm hạt giống lúa lai vụ ĐX 2009 – 2010, nên các DN phải nhập khẩu hạt giống lúa lai với giá rất cao. Chính vì vậy Bộ NN-PTNT đã hỗ trợ theo hướng ưu tiên sản xuất hạt lai F1 trong nước nên diện tích SX giống vụ này tăng mạnh. Báo cáo của Cục Trồng trọt cho biết, vụ ĐX năm nay, các đơn vị kinh doanh giống trên cả nước đã sản xuất được gần 1.800ha hạt lai F1, cao hơn 200ha so với cả năm 2009. Riêng tỉnh Quảng Nam và Đăk Lăk diện tích hạt lai F1 đã chiếm khoảng 70% tổng diện tích SX giống lúa lai cả nước vụ này. Trong đó Đăk Lăk có diện tích 447ha chủ yếu là lúa lai 3 dòng (417ha) còn lại là lúa lai 2 dòng. Còn tại Quảng Nam diện tích sản xuất hạt lúa lai F1 đạt tới 900ha, diện tích lúa lai 2 dòng chiếm 700ha và có 200ha là lúa lai 3 dòng. Bên cạnh đó diện tích sản suất dòng bố mẹ cũng tăng hơn năm trước, đạt 47,5ha dòng mẹ và 9,4ha dòng bố đáp ứng sản xuất hạt lai F1 được khoảng 4.000ha cho vụ tới.
Cùng với diện tích sản xuất hạt lai F1 tăng, theo Cục Trồng trọt, chúng ta cũng đã bước đầu xác định được những vùng sản xuất gồm: Quảng Nam, Bình Định, Đăk Lăk, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hoá, Lào Cai… Đặc biệt, các tỉnh Lào Cai, Đăk Lăk, Quảng Nam đã lập dự án xây dựng vùng chuyên sản xuất hạt giống lúa lai với quy mô 1.000ha/tỉnh. Đây sẽ là vùng chuyên canh sản xuất lúa lai ổn định để cung cấp nhu cầu hạt giống cho người dân trong nước… Ông Ngô Văn Giáo, Chủ tịch Hiệp Hội thương mại giống cây trồng Việt Nam cho biết: Để chúng ta đảm bảo được 70% hạt giống lúa lai F1 cung cấp cho nhu cầu của người dân thì cần phải mở rộng vùng sản xuất hạt giống đối với Tây Nguyên không chỉ tập trung tại Đăk Lăk mà phát triển tại cả Gia Lai, Kon Tum… Đồng thời phải có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh phục vụ yêu cầu sản xuất hạt lai…
Thời tiết bất thuận
Ông Trần Văn Khởi, Trưởng phòng Cây lương thực, Cục Trồng trọt đánh giá: Qua kiểm tra thực tế trên đồng ruộng chúng tôi nhận thấy các tổ hợp lúa lai 3 dòng tại Quảng Nam và Đăk Lăk sinh trưởng, phát triển tốt, bố mẹ trổ bông trùng khớp, sâu bệnh được quản lý, độ thuần đảm bảo, khả năng cho năng suất cao. Còn đối với diện tích sản xuất hạt lai hệ 2 dòng do dòng mẹ dễ bị ảnh hưởng từ biến động của nhiệt độ thời tiết nên đã gặp rất nhiều khó khăn. Tại Quảng Nam với diện tích lúa lai 2 dòng đạt gần 700ha nhưng do ảnh hưởng của đợt không khí lạnh cuối tháng 3 nên dòng mẹ đang trong thời kỳ phân hoá đòng từ bước 4 – 6, gặp thời tiết lạnh dưới ngưỡng 24oC khiến cây mẹ hữu dục đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng hạt giống, một số diện tích phải loại bỏ làm thóc thương phẩm. Theo ông Khởi thì đây là hiện tượng thời tiết bất thường mà trên 30 năm qua chưa từng thấy xuất hiện tại Quảng Nam.
Tương tự, Đăk Lăk cũng bị ảnh hưởng. Ông Vương Mân, Giám đốc Trung tâm Sản xuất giống lúa lai Ea Kar cho biết: Tại huyện Ea Kar chúng tôi đã sản xuất hạt lai được 7 năm, qua quá trình sản xuất cho thấy năng suất đều đạt từ 3 – 4,5 tấn/ha/vụ. Vụ ĐX năm nay, 447ha lúa F1 trên địa bàn đa số phát triển tốt, tuy nhiên do thời tiết nắng nóng đã ảnh hưởng đến sự phát dục của lúa mẹ nên diện tích trỗ lệch pha chiếm khoảng 20% diện tích gồm các giống 3 dòng Nhị ưu 838 và Sán ưu, thời gian thời gian lệch pha lên tới 10 ngày. Những diện tích này năng suất bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Với lúa lai 2 dòng, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm cho hay: Mặc dù diện tích lúa lai TH3 – 3 tại Ea Kar không lớn, nhưng qua kiểm tra đồng ruộng chúng tôi thấy cũng xuất hiện tình trạng lúa mẹ hữu dục do ảnh hưởng của thời tiết.
Kết luận hội nghị, TS Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt đã nêu ra những biện pháp để chương trình sản xuất hạt giống lúa lai F1 phát triển bền vững. Theo đó phải xây dựng được đề án phát triển lúa lai giai đoạn 2011 – 2015 trên cơ sở tập trung các ý kiến của các đơn vị sản xuất giống lúa lai và của các địa phương. Nhanh chóng xây dựng được vùng tập trung sản xuất hạt lai F1 và bố mẹ tại Đăk Lăk, Quảng Nam, Lào Cai, đây là việc làm rất quan trọng để thu hút các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư sản xuất hạt giống phục vụ sản xuất đại trà. Tập trung xây dựng và hình thành công nghệ sản xuất hạt lai F1 tại các vùng sản xuất tập trung, nhưng cũng cần mở rộng ra những địa phương khác để tận dụng vùng sinh thái phù hợp. Cục Trồng trọt cho biết: Kế hoạch sản xuất lúa lai của các đơn vị sản xuất giống trong vụ mùa 2010 đạt khoảng 1.500ha, tăng 50% so với vụ mùa 2009, sản lượng ước đạt 4.000 tấn hạt lai F1 cung cấp cho sản xuất.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp sản xuất hạt giống lúa lai phải chia sẻ hài hoà lợi ích và lấy mục tiêu đảm bảo lợi ích cho người sản xuất là yếu tố quyết định nếu không người nông dân sẽ không phấn khởi trong việc sản xuất hạt giống lúa lai F1. Các cơ quan khoa học nhanh chóng xây dựng và hoàn chỉnh quy trình nghiên cứu và quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa lai F1 cho từng loại giống khác nhau. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đầy đủ bản quyền tác giả cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu, chọn tạo các loại giống nói chung và giống lúa lai nói riêng… Đối với vùng bị thiệt hại sản xuất lúa lai 2 dòng do thời tiết gây ra tại Quảng Nam trong vụ ĐX năm nay cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành chức năng của Trung ương, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở để tháo gỡ khó khăn.
NGỌC KHANH - NGỌC THĂNG
Nguồn: http://nongnghiep.vn/NongnghiepVN/vi-VN/61/158/45/67/67/52565/Default.aspx
Viện sĩ Viên Long Bình cho biết, theo Chương trình "nghiên cứu cải tiến và ứng dụng giống lúa lai siêu cấp chất lượng cao" do Bộ Khoa học kỹ thuật Trung Quốc ấn định vào năm 2008, mục tiêu giai đoạn 3 được thực thi theo 3 bước, tức là chỉ tiêu sản lượng thí điểm trên diện tích rộng lúa lai siêu cấp một vụ năm 2010 lên tới 830 kg/sào; năm 2012 lên tới 860 kg/sào; năm 2015 lên tới 900 kg/sào. Viện sĩ Viên Long Bình nói, "nghiên cứu lúa lai siêu cấp có ý nghĩa to lớn, có lợi cho đảm bảo an ninh lương thực Trung Quốc và thế giới; có lợi cho nông dân Trung Quốc gia tăng thu nhập, nông nghiệp tăng năng suất; có lợi cho kinh tế Trung Quốc phát triển bền vững; nâng cao trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngành giống Trung Quốc; thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường." Hiền Phạm Nguồn: http://nongnghiep.vn/NongnghiepVN/vi-VN/61/158/2/107/107/46981/Default.aspx |
An Nhơn là 1 huyện trọng điểm lúa của tỉnh Bình Định, diện tích SX lúa hằng năm đạt từ 18.000-19.999 ha, chiếm 80% diện tích gieo trồng. Đây cũng là huyện đi đầu trong việc đưa các giống lúa lai vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Ông Nguyễn Thành Minh - Trưởng phòng Kinh tế huyện An Nhơn cho biết: “Vụ đông xuân 2009-2010 An Nhơn SX hơn 7.100 ha lúa, trong đó có 1.600 ha lúa lai. Thực tế cho thấy những diện tích nông dân gieo sạ các lúa thuần ngày càng gặp khó khăn bởi có một số giống đã đạt “kịch trần” năng suất và ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm như: Độ đồng đều thấp và không kháng được sâu bệnh gây hại.
Do đó, trong nhiều năm qua chúng tôi không ngừng tìm tòi, làm khảo nghiệm nhiều loại giống lúa lai để xác định các loại giống cho năng suất cao, chất lượng gạo ngon, kháng được sâu bệnh và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt để kịp thời đưa vào cơ cấu bộ giống SX trên chân 2 vụ lúa/năm nhằm tăng cao năng suất trên cùng diện tích. Sau 3 năm SX giống lúa Arize XL 94017 của Cty Bayer VN chúng tôi ghi nhận: Đây là giống có xuất xứ từ Ấn Độ, một xứ sở oi nóng nên giống Arize XL 94017 chẳng những thích nghi trong vụ ĐX ở Bình Định mà còn thích ứng với cả vụ thu vì đặc tính chịu nắng nóng của nó. Năng suất trong các vụ ĐX là gần 88 tạ/ha và vụ thu là hơn 90 tạ/ha”.
Ông Phan Văn Khiêm - Trưởng trạm Khuyến nông huyện Tuy Phước cho biết thêm: “Trong những năm qua, Tuy Phước không ngừng đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ SX 3 vụ sang còn 2 vụ lúa/năm nên luôn khao khát các giống lúa lai có tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh và có chất lượng gạo ngon. Sau 3 năm sản xuất, nông dân Tuy Phước đã nhận định giống lúa lai Arize XL 94017 là loại giống hội đủ những ưu điểm trên và đang rất mê. Nông dân càng mê hơn khi hạt gạo của nó thon dài, cơm mềm, thơm ngon, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu nên giá bán thường cao hơn các loại gạo khác”.
Dắt chúng tôi về cánh đồng thôn Nho Lâm, xã Phước Hưng (Tuy Phước - Bình Định), nông dân Mai Xuân Thanh chỉ xuống đám ruộng có diện tích hơn 1.300 m2 của mình và khoe: “Tôi là người đã có thâm niên làm lúa lai từ nhiều năm nay, nhưng khi bắt đầu làm giống Arize XL 94017 là tôi nhận ra ngay những điểm vượt trội của nó so với các giống lúa lai khác. Giống này đẻ nhánh rất khỏe, tập trung nên mật độ sạ chỉ cần 1,8kg/sào là vừa. Trong quá trình phát triển, cây lúa kháng được các bệnh đạo ôn, bọ trĩ và bị rầy nâu... chê.
Như vụ đông xuân 2009-2010 này, trong khi các đám ruộng chung quanh đang bị dịch rầy tấn công ào ạt thì đám ruộng của tôi vẫn bình yên, chưa hề phun 1 lần thuốc nào mà cây lúa vẫn khỏe mạnh. Hiện cây lúa đã hơn 70 ngày tuổi, đang làm đòng mà với mã lúa đẹp như thế này thì năng suất cầm chắc là hơn 70 tạ/ha. Nhờ chất lượng gạo ngon nên khi bán ra thị trường luôn cao hơn các loại gạo khác từ 500-800đ/kg. Trong vụ thu 2009, sau khi tính toán chi li, sản xuất lúa lai Arize XL 94017 có lãi ròng 11 triệu đồng/ha, trong khi đó mức lãi của các giống lúa lai khác chỉ 6,5 triệu/ha”.
Nông dân Mai Xuân Thanh bộc bạch thêm kinh nghiệm: “Đây là giống phàm ăn nên mình phải đầu tư thâm canh ngay từ đầu thì nó sẽ có sức khỏe tốt để chống chịu sâu bệnh. Đặc điểm của giống này là lá lúa luôn có màu xanh rất đẹp dù đang thiếu phân. Nhiều khi nông dân bưng phân ra ruộng định vãi, thấy lúa xanh ngời ngời tưởng đã đủ dinh dưỡng liền mang phân về không vãi, sau đó khi trỗ cây lúa bị lép cậy cho năng suất kém”.
Bởi vậy, dù giá giống Arize XL 94017 khá cao: từ 62.000-65.000đ/kg nhưng nhờ hiện nay tỉnh Bình Định vẫn áp dụng chính sách hỗ trợ 30% giá giống và hiệu quả kinh tế cao nên nông dân rất mê làm giống lúa này. Tuy nhiên, giống quá khan hiếm. Như vụ ĐX này, nông dân 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước đăng ký mua đến hàng chục tấn giống Arize XL 94017 nhưng cuối cùng không có giống về, họ phải chuyển qua làm giống lúa lai khác.
Vũ Đình Thung
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/2/2/2/46208/Default.aspx
LUAGAO - Ai đưa cây lúa lai vào đồng ruộng Việt Nam? Ngược thời gian, chúng tôi cho rằng - đó là cựu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Công Tạn, sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách lĩnh vực nông nghiệp trong giai đoạn 1997-2002.
Nghỉ hưu đã 7 năm, ở tuổi 76, mái tóc bạc trắng, nhưng ông Nguyễn Công Tạn vẫn phong độ, dáng đi nhanh nhẹn, ánh mắt tinh anh, giọng nói sang sảng.
Ông Nguyễn Công Tạn thăm sản xuất lúa lai ở Nam Định |
Sau mươi phút chuyện trò tại sân bay Nội Bài, chuyến máy bay đi Huế cất cánh trước, ông chia tay và mời tôi sau chuyến đi An Giang về, ghé xuống trường Đại học Thành Tây, ông muốn giới thiệu về cây Jatropha và một số mô hình công nghệ cao của trường, nơi ông đang làm chủ tịch HĐQT.
Nhờ cơ duyên ấy, ngày đầu năm 2010, tôi xuống trường ĐH Thành Tây thăm ông. Hoá ra tôi và ông lại là người cùng quê, tôi là con dâu quê lúa Thái Bình, còn ông sinh ra ở ở xã Thái Sơn, huyện Thái Thuỵ, đường về quê ông phải qua Châu Giang huyện Đông Hưng quê tôi.
Trong buổi trò chuyện này, tôi hỏi ông về những năm tháng đầu của thời kỳ đất nước đổi mới, trong đó có ngành nông nghiệp. Những năm tháng ông làm Bộ trưởng từ 1987-1997, một thời kỳ mà hầu như mưa thuận gió hoà, năm nào cũng được mùa, ít khi thất bát, để rồi ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển từ vị thế của nước thiếu đói phải nhận viện trợ nước ngoài, sang tự túc đảm bảo an ninh lương thực, xoá bỏ sổ cung cấp lương thực cho dân, trở thành cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới. Ông Nguyễn Công Tạn nói:
- Khoán 10 chính là động lực thúc đẩy cho ngành sản xuất nông nghiệp của cả nước phát triển. Nhưng trong nông nghiệp sau tiến bộ chuyển vụ lúa xuân thì năng suất lúa Việt Nam vẫn chưa cao, dân vẫn thiếu lương thực, nhất là miền Bắc dân đông ruộng đất ít. Là Bộ trưởng vừa phải lo chỉ đạo sản xuất vừa phải lo điều hành lương thực trong cả nước, tôi nhận thấy giải pháp chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc, chỉ là tình thế. Hồi đó đường sá giao thông còn khó khăn, chuyển được hạt gạo từ Nam ra, cõng nửa tiền tàu xe. Rồi kèm theo vấn đề an ninh lương thực, sự chênh lệch sản xuất giữa hai miền, làm sao tránh khỏi những kẽ hở trong buôn bán kinh doanh. Cứ nhìn cảnh nhân dân phải xếp hàng đong gạo theo tem phiếu, phải ăn độn ngô khoai, thì làm sao có thể tạo nên công cuộc đổi mới. Muốn đổi mới phải đảm bảo an ninh lương thực cho từng vùng và cả nước. Các cụ xưa có câu “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Vậy là vấn đề lâu dài, có tính chiến lược, miền Bắc phải sản xuất đủ lương thực, vựa lúa miền Nam chỉ dành cho xuất khẩu. Thế nhưng nhìn lại bộ giống trên đồng ruộng nhất là phía Bắc, ngoài lúa xuân NN8, DT10, hầu hết là các giống cũ của địa phương năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh, úng hạn kém. Nhìn ra nước bạn Trung Quốc, họ đã tạo nên bước nhảy vọt trong sản xuất nông nghiệp nhờ lúa lai. Tôi từng là lưu học sinh, năm 1958 đã tốt nghiệp đại học tại Học viện Hoa Nam, Trung Quốc, năm 1964 - 1966 lại làm thực tập sinh khoa học ở Hàng Châu, nên tôi hiểu rõ các thành tựu về lúa lai của Trung Quốc và có nhiều bạn bè có thể giúp trong lĩnh vực này.
Lúa lai là một loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995. Trung Quốc tập trung phát triển các giống siêu thế hệ thứ hai với mục tiêu đạt năng suất 12 tấn/ha khi đưa vào sản xuất đại trà. Năm 2007 đã phủ diện tích tới 15,8 triệu ha chiếm 53,4% diện tích lúa toàn Trung Quốc, được coi như cuộc cách mạng xanh của thế giới lần thứ hai. Hiện có tới 40 quốc gia trên thế giới sản xuất lúa lai.
Từ câu chuyện lúa lai Trung Quốc nhìn sang Việt Nam, tôi thấy không thể không phát triển sản xuất lúa lai. Ở miền Bắc, đất nông nghiệp không nhiều, nhưng nông dân cần cù lao động và có nhiều kinh nghiệm thâm canh. Hồi chiến tranh đã có tỉnh đạt 5 tấn/ha như Thái Bình, nếu đưa lúa lai vào đồng ruộng có thể tạo nên một bước ngoặt lớn, đẩy nhanh sản lượng lúa của miền Bắc. Thế là chương trình sản xuất thử lúa lai ra đời, rồi sản xuất hạt lai, đào tạo những cán bộ khoa học chuyên sâu về sản xuất lúa lai. Không phải tới năm 1987, tôi làm Bộ trưởng Nông nghiệp, lúa lai mới được đưa vào đồng ruộng Việt Nam, trước đó năm 1985, khi là Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, tôi đã mời chuyên gia Trung Quốc ở Viện lúa Viên Long Bình và chuyên gia tỉnh Phúc Kiến, sang hướng dẫn sản xuất lúa lai tại huyện Đan Phượng. Khi cây lúa lai đã bén rễ trên đồng ruộng Việt Nam, tôi tính chuyện bên cạnh nhập giống phải sản xuất hạt lai.
Nhớ lại chuyện sản xuất lúa lai, cũng lắm chuyện buồn vui. Có lần chỉ đạo sản xuất hạt lai tại huyện Ứng Hoà, sản xuất thành công nhưng dân gặt trộm không trả thóc giống, tôi phải bỏ tiền túi để đền cho nông dân 200 triệu và chuyên gia 100 triệu đồng. Khi làm Bộ trưởng tôi đã cử một số cán bộ sang Trung Quốc học làm lúa lai, trong số đó có PGS.TS Nguyễn Thị Trâm là học trò của tôi đã thành công trong việc sản xuất lúa lai tại Việt Nam làm nên kỷ lục bán bản quyền 10 tỷ giống lúa lai TH3-3 và tôi được tác giả giống tặng 10 triệu đồng vì ghi nhớ công ơn của thầy.
NGHIÊM THỊ HẰNG
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/44975/Default.aspx
LUAGAO - * "4 trong 1": Vừa đẻ nhánh, vừa làm đòng, vừa trổ bông và vừa chín
Nhiều hộ trồng lúa lai B-TE1 ở huyện An Biên đang mất ăn, mất ngủ vì giống lúa này có biểu hiện trổ bông sớm bất thường. Trên cùng một thửa ruộng, cùng thời gian canh tác nhưng lúa vừa đẻ nhánh, vừa làm đòng, vừa trổ bông và vừa chín theo kiểu "4 trong 1".
Trên cùng một ruộng lúa nhưng có sự khác biệt khá rõ trên từng khóm lúa: vừa đẻ nhánh, vừa làm đồng, vừa trổ bông và vừa chín |
Theo lịch thời vụ của huyện thì ít nhất phải hơn tháng nữa mới bắt đầu thu hoạch lúa ĐX sớm. Thế nhưng, hiện nhiều diện tích nông dân làm giống lúa lai B-TE1 lúa đã lác đác có bông chín vàng. Dẫn chúng tôi ra thửa ruộng sau nhà, bà Nguyễn Thị Bé, ngụ ấp Sáu Đình, xã Nam Thái (An Biên) than thở: “Không hiểu sao mà lúa mới cây được hơn tháng đã có cây trổ bông. Lúc đầu tôi cứ tưởng lúa bị lẫn trên nền ruộng nên nhổ bỏ những cây trổ sớm. Thế nhưng cứ nhổ hết đợt này lại có đợt khác lác đác trổ. Lúa trổ như vậy, đành phải chờ “chín bông nào, thu hoạch bông nấy” chứ cũng chẳng biết làm sao”.
Bên ruộng nhà bà Bé, một số ruộng lúa lai B-TE1 của những hộ nông dân khác dù lúa còn xanh tốt nhưng cũng lác đác đã có những cây trổ bông. Thậm chí, những hộ nông dân mấy năm trước đã từng trúng mùa với giống lúa lai này năm nay cũng...chào thua. Ông Trần Văn Tỷ, ấp Sáu Đình, xã Nam Thái cho biết, cũng là giống lúa lai B-TE1 (do Cty Bayer độc quyền phân phối), cũng với cách canh tác như năm ngoái (gieo mạ trên bờ, chờ thu hoạch tôm xong nhổ xuống cấy) nhưng năm nay thì thất mùa là cái chắc rồi. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa ai biết tại sao lúa lại có hiện tượng lạ như vậy.
Arize B-TE1 là giống lúa lai 3 dòng do Cty Bayer CropScience tại Ấn Độ lai tạo, sản xuất và giống lúa này đã được thương mại hóa ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, giống lúa trên do Cty Bayer Việt Nam nhập khẩu và độc quyền phân phối. Theo quy trình canh tác ghi trên bao bì, đối với khu vực miền Nam thì giống lúa này có thời gian sinh trưởng vụ đông xuân là 103 -105 ngày. Tuy nhiên, theo một số nông dân cho biết vụ này nhiều ruộng lúa mới chỉ khoảng 60 ngày đã có bông trổ, chín. |
Ông Huỳnh Thanh Dân - Chi hội trưởng Chi hội nông dân ấp Sáu Đình cho biết, năm ngoái một số hộ nông dâ đã trúng mùa lúa lai nên năm nay nhiều hộ đầu tư làm theo. Bình thường giống lúa này chỉ khoảng 50.000 đồng/kg nhưng vào lúc cao điểm năm nay lến đến 75.000 đồng/kg vẫn không có mà mua. Toàn ấp vụ này có đến 78 hộ làm lúa lai B-TE1 với 106ha nhưng phân nửa diện tích lúa đã bị hiện tượng trổ sớm bất thường.
Ông Trương Ni Nông - Chủ tịch UBND xã Nam Thái cho biết, thu nhập của bà con nông dân chủ yếu dựa vào con tôm và cây lúa. Nên chỉ cần thất một vụ lúa nhiều hộ sẽ lâm cảnh khó khăn, không còn vốn để tái đầu tư sản xuất. Trưởng phòng NN- PTNT An Biên, Nguyễn Hữu Hoa cho biết, nông dân trong huyện đã trồng lúa lai mấy năm nay nhưng chưa bao giờ gặp hiện tượng bất thường như vậy.
Theo điều tra sơ bộ thì lúa lai trổ chín sớm bất thường trên diện tích lúa cấy cao hơn nhiều so với lúa sạ. Điều đáng lưu ý là một số hộ nông dân đã gieo mạ quá lâu (khoảng gần 1 tháng) trước khi đem cấy xuống ruộng. Vì vậy, đến thời điểm này vẫn chưa thể xác định được nguyên nhân lúa lai trổ bất thường do chất lượng giống, thời tiết hay do người dân canh tác không đúng kỹ thuật.
+ Chủ tịch UBND huyện An Biên, Trần Chí Dũng đã ký quyết định thành lập tổ kiểm tra để làm rõ nguyên nhân vì sao nông dân sử dụng giống lúa lai B-TE1 lại cho kết quả bất thường với sự vào cuộc của cả cán bộ ngành nông nghiệp lẫn cảnh sát kinh tế. + Ông Trần Quốc Sỹ- cán bộ kỹ thuật ngành giống Cty Bayer cho biết, trước mắt Cty đã cử người xuống những vùng có lúa trổ bất thường để tìm hiểu. Nếu hiện tượng trên là do chất lượng giống thì Cty sẽ hỗ trợ thoả đáng nông dân. |
Đ.T.CHÁNH
nGUỒN: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/83/83/42756/Default.aspx