(Theo Báo NNVN)
Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012
Ấn tượng máy làm mạ khay
(Theo Báo NNVN)
Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010
Phát triển dòng siêu lúa C4
LUAGAO - Các cuộc hội thảo liên tiếp từ 20 đến 27/8/2010 tại Thượng Hải (Trung Quốc) tập trung vào việc can thiệp quá trình quang tổng hợp để chuyển các giống lúa C3 khai thác hiện nay sang dòng siêu lúa C4 có khả năng tăng năng suất từ 30 đến 50%, giảm nhu cầu nước đến 50% và nhu cầu phân bón đến 30%. Đây là những bước đi dồn dập nhằm khởi động cuộc cách mạng xanh thứ hai với sự tham gia của các nhà khoa học đa ngành trên toàn thế giới với nguồn tài trợ từ các chính phủ hay các quỹ như Bill & Melinda Gates Foundation.
Cơ quan lương nông Liên hợp quốc (FAO) cho biết nhu cầu lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70% trong 40 năm tới. Dân số thế giới từ 7 tỷ hiện nay sẽ đến 9 tỷ trong khoảng năm 2050. Nhưng đất nông nghiệp không có khả năng tăng, vẫn giữ ở mức trên dưới 10% diện tích Trái đất. Tính ra một hecta đất trồng ở châu Á sẽ phải nuôi sống 43 người trong những năm đó so với con số 27 hiện nay. Người tăng, đất không tăng, biện pháp duy nhất là phải chủ động làm tăng năng suất cây trồng trong các điều kiện thời tiết thất thường rất khó lường đoán, đồng thời tìm cách đưa dòng lúa nước cao sản lên các sa mạc khô hạn. Phương pháp được chọn hiện nay là sử dụng tối ưu nguồn năng lượng mặt trời trên mỗi diện tích lá qua quang tổng hợp.
Quang tổng hợp là quá trình sử dụng năng lượng mặt trời để cố định các-bon (C) từ các-bô-nic (CO2) có sẵn trong khí quyển nhằm tạo thành các chất đường, bột và sợi thực vật làm thức ăn cho người. Lúa là cây lương thực quan trọng nhất vì cung cấp cái ăn cho hơn một nửa dân số thế giới. Vì vậy làm tăng năng suất cây lúa đồng thời giảm thiểu tổn hại môi trường sẽ là căn bản của cuộc cách mạng xanh thế kỷ 21. Trong điều kiện tự nhiên hiện nay cây lúa chỉ có khả năng cố định thành tổ hợp 3 các-bon (gọi là C3) nhờ loại enzyme quang xúc tác tên là ribulose bisphosphate carboxylase oxygenase viết tắt là RUBISCO.
Việc trao đổi giữa cây với môi trường không khí bên ngoài diễn ra nơi các khí khổng (stomata), ở đó khí CO2 hòa tan vào trong túi nước bắt đầu tiến trình quang tổng hợp trong khi khí O2 cùng với hơi nước thoát ra khỏi cây kết thúc tiến trình hô hấp thực vật. Hiệu quả cố định các-bon từ CO2 khí trời thành các hợp chất hữu cơ nơi dòng cây C3 như lúa không cao vì ô-xy sinh ra từ quá trình hô hấp lại có khuynh hướng giành RUBISCO của chu trình quang tổng hợp, thường gọi là chu trình Kelvin. Khi nhiệt độ bên ngoài càng cao, đặc biệt lúc đã vượt quá 20oC thì việc hô hấp càng mạnh, ô-xy sinh ra càng nhiều và cướp lấy RUBISCO làm hạn chế mức độ quang tổng hợp dẫn tới việc cây chậm tăng trưởng hoặc chỉ cho năng suất thấp.
Trong thực tế tự nhiên đã có một số rất ít các loài thực vật như bắp (ngô), mía và cỏ ngọt có tiến trình quang tổng hợp hiệu quả hơn nhờ khả năng cố định thành các tổ hợp 4C tạo thành dòng cây C4 cho năng suất cao. Khí CO2 tại đó không bị bắt ngay bởi RUBISCO mà bởi một chất trung gian tên là phosphoenolpyruvate (PEP) để chuyển hóa thành một chất 4C là oxaloacetic acid (OAA) di chuyển sâu vào trong các mạch lá. Ở đó OAA được RUBISCO tiếp nhận lấy phần các-bon để quang tổng hợp và trả PEP trở lại mặt lá. Việc quang tổng hợp diễn ra trong các thành mạch không bị ô-xy tranh chấp và cây có khuynh hướng phát triển bộ gân phủ dày mặt lá.
Ý niệm chuyển đổi dòng lúa C3 hiện nay thành dòng siêu lúa C4 đã được đưa ra từ nhiều năm trước nhờ phát hiện trong điều kiện tự nhiên cây lúa đã có gene lặn liên quan đến kiểu quang tổng họp PEP-RUBISCO. Các viện nghiên cứu nay tách lập C4 từ các giống lúa đang khai thác bằng cách hạ nồng độ CO2 xuống dưới 50ppm nhằm làm chết các lúa C3. Công tác nhân và chọn lọc giống sẽ tiến hành sau đó với mục tiêu đưa chúng vào trồng đại trà trong 10 năm tới. Đặc tính chung của các giống lúa C4 là tế bào khí khổng không cần mở lớn mà chỉ khép hờ nên giảm bớt nhu cầu tưới nước và có thể đem lên các vùng khô hạn, đồng thời giảm nhu cầu phân đạm vì không phải hoang phí RUBISCO vốn là enzyme chứa tới 15% ni-tơ.
(Theo Báo NN Việt Nam)
Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009
Gạo không cần nấu cũng chín
Lúa vẫn đang là cây lương thực chủ đạo không chỉ ở riêng châu Á | LUAGAO - Với giống lúa mới, bạn không phải mất thời gian cho việc vo gạo và nấu chín nữa, chỉ ngâm trong nước là bạn có thể ăn cơm chín và nó chẳng khác gì loại cơm gạo khác mà bạn vẫn thường nấu. |
Aghanibora là tên giống lúa mới đặc biệt này, được Viện nghiên cứu gạo trung ương Ấn Độ (CRRI) phát minh và thử nghiệm. Ông Tapan Kumar Adhya – giám đốc CRRI cho biết, giống lúa Aghanibora có thời gian sinh trưởng trong khoảng 5 tháng và đạt năng suất từ 4 đến 5 tấn trên mỗi hecta. Aghanibora là giống lúa có hàm lượng men phân giải tinh bột thấp và trở nên dẻo mềm sau khi ngâm trong nước. Ông Tapan Kumar Adhya cho biết, bạn có thể ăn gạo sau khi ngâm nó khoảng 45 phút trong nước thường hoặc 15 phút trong nước ấm. Loại gạo này sẽ liệu có trở nên phổ biến? (Ảnh minh họa) Aghanibora được phát triển từ giống lúa "Komal chawl" nổi tiếng của bang Assam (phía bắc Ấn Độ) chứ không phải gạo biến đổi gene. Lúa "Komal chawl" có khả năng sinh trưởng trong điều kiện thời tiết nóng và ẩm song vẫn giữ được các dưỡng chất và đặc tính mềm của gạo. Aghanibora chẳng có gì khác biệt so với các loại lúa khác đang được trồng ở Ấn Độ. Ông Tapan Kumar Adhya nói rằng, trong suốt ba năm qua các nhà khoa học của CRRI đã trồng thử Aghanibora trong môi trường nóng và ẩm của bang Orissa để xem nó giữ được đặc tính mềm và các dưỡng chất khi tiếp xúc với nước giống như lúa "Komal chawl" hay không. Và họ rất vui vì các thử nghiệm đã thành công. Với loại gạo “không cần nấu” này, các nhà khoa học tin rằng việc nấu cơm trở nên dễ dàng hơn, giảm nhẹ công việc của người nội trợ đồng thời có thể tiết kiệm được nhiên liệu dùng để nấu cơm. ------------------------------ Nguồn: 24H.COM.VN (Theo VITINFO) | |
Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009
Sản xuất lúa Japonica - lựa chọn mới của nông dân
LUAGAO - Theo TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp, trên thị trường lúa gạo trong nước, gần đây xuất hiện các giống gạo thuộc loại Japonica có nguồn gốc Nhật Bản với giá bán cao gấp 2 đến 3 lần giá gạo loại gốc Indica. Sự gia tăng nhu cầu đối với lúa gạo chất lượng cao trong nước, đã thúc đẩy mở rộng sản xuất và thương mại loại gạo chất lượng cao mới, gạo hạt tròn Japonica.
Ông Vịnh cho biết, trên thế giới có 2 loại gạo chất lượng cao, đó là gạo hạt dài thuộc loài phụ Indica, được sản xuất ở các nước nhiệt đới và loại hạt tròn thuộc loài phụ Japonica, sản xuất chủ yếu ở vùng lạnh. Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa Japonica tròn, cơm dẻo do có hàm lượng amylose thấp hơn và có chứa amylopectin. Một số giống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong hạt khá cao.
Lúa Japonica là loại hình thấp cây đến trung bình, chống đổ tốt, chịu thâm canh, chịu lạnh khoẻ, có khả năng chống chịu nhiều loại sâu bệnh và có thời gian sinh trưởng từ ngắn đến trung bình. Ưu điểm của lúa Japonica là khả năng chịu lạnh, sinh trưởng ở nhiệt độ thấp xung quanh 15 độ C, tuy nhiên nhiệt độ xuống tới 11 độ C ở giai đoạn trỗ bông sẽ gây hại nặng. Lúa Japonica thường thích hợp với vùng trồng có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới và vùng cao nhiệt đới. Các nước trồng lúa Japonica chủ yếu tập trung ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... trải dài tới Trung cận đông như Ai Cập, Ma-rốc, Thổ Nhĩ Kỳ.
Theo thống kê của FAO từ năm 1982 - 1994 diện tích trồng lúa Japonica trên thế giới thay đổi không nhiều, nhưng sản lượng lúa tăng 16,6%; chủ yếu nhờ vào tăng năng suất trung bình đạt từ 5 - 5,8 tấn/ha. Tổng sản lượng lúa Japonica trên thế giới chỉ khoảng 100 triệu tấn trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% tổng diện tích trồng lúa thế giới. Nhưng tình hình sản suất lúa Japonica trên thế giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúa Japonica đã lên tới 20% diện tích trồng lúa toàn cầu.
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa Japonica với tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật Bản 2,1 triệu ha... Diện tích trồng lúa Japonica ở Trung Quốc đã tăng hơn 2 lần trong vòng hai chục năm qua, giá lúa Japonica cũng tăng hơn 2 lần. Chính sách đã có tác động tới thay đổi cơ cấu giống của TQ như một số tỉnh trước đây chủ yếu sản xuất lúa Indica đã thay bằng các giống Japonica, có tỉnh đã nâng diện tích Japonica lên khoảng 80%. TQ xuất khẩu chủ yếu gạo Japonica sang Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.
Theo GS Nguyễn Văn Luật, vào thập niên 90, Viện lúa ĐBSCL đã hợp tác với Viện JIRCAS của Nhật Bản nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa Japonica do các nhà khoa học Nhật mang sang. Tại phía Bắc, Viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp hợp tác với Nhật Bản trồng thử Japhonica ở Thái Bình và một số địa phương khác. Đồng thời DN của Nhật cũng hợp tác với tỉnh An Giang trồng thử nghiệm các giống lúa hạt tròn Japonica. Tại An Giang trong chương trình trồng thử nghiệm giống lúa Japonica hạt tròn, năng suất có thể đạt 8 - 8,5 tấn/ha. Hưng Yên và Thái Bình trong điều kiện vụ xuân giống lúa Japonica có tên ĐS1 đã đạt năng suất 3 tạ/sào (8,1 tấn/ha).
Những năm qua, Viện Di truyền NN phối hợp với các địa phương khảo nghiệm khoảng 50 giống lúa Japonica khác nhau ở các tỉnh phía Bắc. Trong đó, giống lúa Japonica ĐS1 được chọn tạo và nhân giống từ năm 2001, cho năng suất cao, chất lượng tốt, đã được Bộ NN - PTNT công nhận là giống tạm thời. Hiện tại giống ĐS1 đang được mở rộng sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc. Giống ĐS1 trồng được cả hai vụ, thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất vụ xuân đạt trung bình 7-8 tấn/ha, và có nhiều ưu điểm như cứng cây, chịu rét tốt, ít bị sâu bệnh...
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Hoà Bình, lúa ĐS1 càng lên vùng cao lạnh hơn càng biểu hiện năng suất cao hơn, một số HTX đạt trên 10 tấn/ha. Giá lúa ĐS1 vụ ĐX 2009 nông dân bán ra 7.000đ/kg, tăng gấp 2 lần so với giống Khang dân, trong khi năng suất ĐS1 lại cao hơn. Theo thông báo của Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tại Định Hóa - Thái Nguyên, năng suất lúa ĐS1 đạt trung bình 7,2 tấn/ha; tại Sơn Dương, Tuyên Quang đạt 7,8 tấn/ha; tại Chi Lăng, Lạng Sơn đạt 7,3 tấn/ha. Giá gạo Japonica tại địa phương cao hơn so với các giống khác từ 2.500 - 3.000đ/kg. Chất lượng gạo ngon, dẻo được bà con các dân tộc vùng cao rất ưa thích. Ngoài ra, Viện DTNN đang tiếp tục khảo nghiệm và chọn tạo hàng chục giống Japonica khác, nhân nhanh một số giống có thời gian sinh trưởng từ rất ngắn, ngắn, đến trung bình. Như giống J02 có thời gian sinh trưởng vụ mùa 100-105 ngày, tiềm năng năng suất cao, gạo ngon, có thể tham gia cơ cấu mùa sớm kịp thời vụ sản xuất vụ đông.
PGS-TS Đỗ Năng Vịnh cho biết, Viện sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương miền núi đẩy diện tích sản xuất lúa Japonica lên 10 - 20%, sản lượng chiếm 12 - 24%. Dự kiến sẽ đưa kỹ thuật gieo thẳng vào sản xuất và đưa vụ đông xuân lên sớm hơn nhờ đặc tính chịu lạnh, khai thác các giống có thời gian sinh trưởng ngắn hơn và phát triển sản xuất vụ mùa bảo đảm sản xuất được 2 vụ lúa có năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao, chất lượng gạo cao hơn so với các giống Indica ở cùng khu vực. Khai thác thêm một vụ đông giữa 2 vụ lúa ở một số địa bàn. Gạo Japonica sản xuất ở miền núi, đặc biệt gạo hữu cơ, có thể phục vụ xuất khẩu. Đồng bào các dân tộc chắc chắn sẽ chào đón các giống Japonica vì bản thân họ vốn quen ăn gạo dẻo...
TRƯỜNG GIANG
NGUỒN: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/40940/Default.aspx