Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông tin khoa học mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông tin khoa học mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Ấn tượng máy làm mạ khay

LUAGAO - Trong chuyến tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng chương trình nông thôn mới và triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc vừa qua, cán bộ Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Phát triển nông thôn hết sức ấn tượng bởi cách làm mạ khay của nông dân nước này.

Dây chuyền làm mạ khay tại Triết Giang
- Theo ông Dũng, Phó trạm trưởng Nông viện cơ giới TP Kim Hoa (Chiết Giang), mô hình làm mạ khay trên máy hiệu quả kinh tế rất cao, mỗi thôn chỉ cần trang bị 1 máy là đủ năng lực cung cấp mạ, xuống giống đồng loạt kịp theo lịch thời vụ để hạn chế sâu bệnh cũng như thời tiết bất thuận.
Quy trình làm mạ khay trên dây chuyền này rất đơn giản và dễ vận hành, người nông dân chỉ cần quan sát một lần là có thể thành thạo. Hơn nữa chi phí cho chiếc máy này tương đối rẻ, chỉ khoảng hơn 20.000 NDT, tương đương 65 triệu VNĐ. Hiện loại máy làm mạ khay này đang được nhà SX máy nông cụ Lion chào bán rất nhiều cùng với các loại máy làm đất, máy gặt đập liên hợp, máy cấy tại thị trường VN.

Mạ sắp đến tuổi xuống đồng trong hệ thống nhà lưới
Ông Dũng giải thích thêm, trước khi đưa nguyên liệu làm mạ khay lên dây chuyền, người dân cần lấy phân trâu bò ủ hoai rồi trộn với đất và nước đã sát trùng để diệt trừ mầm bệnh. Sau đó tiến hành các bước đưa đất lên máy và đổ thóc giống vào phễu để máy chạy rồi đón khay mạ đưa vào nhà lưới. Chỉ sau 7 ngày là mạ lên đúng thời điểm có thể đưa ra đồng chuyển lên máy cấy.
Ông Nguyễn Quang Hùng, cán bộ Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang cho biết, ông sức ấn tượng với mô hình cơ giới hóa đồng bộ trong SX lúa của nông dân Triết Giang. Mặc dù ở Bắc Giang đã trình diễn máy cấy của KUBOTA từ vụ mùa 2012, nhưng việc triển khai chưa được đồng bộ do đồng ruộng manh mún. Hy vọng thời gian tới Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ máy cấy, máy làm mạ khay cho các tổ hợp tác, HTX thì việc triển khai sẽ hiệu quả hơn.






(Theo Báo NNVN)

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Phát triển dòng siêu lúa C4

LUAGAO - Các cuộc hội thảo liên tiếp từ 20 đến 27/8/2010 tại Thượng Hải (Trung Quốc) tập trung vào việc can thiệp quá trình quang tổng hợp để chuyển các giống lúa C3 khai thác hiện nay sang dòng siêu lúa C4 có khả năng tăng năng suất từ 30 đến 50%, giảm nhu cầu nước đến 50% và nhu cầu phân bón đến 30%. Đây là những bước đi dồn dập nhằm khởi động cuộc cách mạng xanh thứ hai với sự tham gia của các nhà khoa học đa ngành trên toàn thế giới với nguồn tài trợ từ các chính phủ hay các quỹ như Bill & Melinda Gates Foundation.

Cơ quan lương nông Liên hợp quốc (FAO) cho biết nhu cầu lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70% trong 40 năm tới. Dân số thế giới từ 7 tỷ hiện nay sẽ đến 9 tỷ trong khoảng năm 2050. Nhưng đất nông nghiệp không có khả năng tăng, vẫn giữ ở mức trên dưới 10% diện tích Trái đất. Tính ra một hecta đất trồng ở châu Á sẽ phải nuôi sống 43 người trong những năm đó so với con số 27 hiện nay. Người tăng, đất không tăng, biện pháp duy nhất là phải chủ động làm tăng năng suất cây trồng trong các điều kiện thời tiết thất thường rất khó lường đoán, đồng thời tìm cách đưa dòng lúa nước cao sản lên các sa mạc khô hạn. Phương pháp được chọn hiện nay là sử dụng tối ưu nguồn năng lượng mặt trời trên mỗi diện tích lá qua quang tổng hợp.

Quang tổng hợp là quá trình sử dụng năng lượng mặt trời để cố định các-bon (C) từ các-bô-nic (CO2) có sẵn trong khí quyển nhằm tạo thành các chất đường, bột và sợi thực vật làm thức ăn cho người. Lúa là cây lương thực quan trọng nhất vì cung cấp cái ăn cho hơn một nửa dân số thế giới. Vì vậy làm tăng năng suất cây lúa đồng thời giảm thiểu tổn hại môi trường sẽ là căn bản của cuộc cách mạng xanh thế kỷ 21. Trong điều kiện tự nhiên hiện nay cây lúa chỉ có khả năng cố định thành tổ hợp 3 các-bon (gọi là C3) nhờ loại enzyme quang xúc tác tên là ribulose bisphosphate carboxylase oxygenase viết tắt là RUBISCO.

Việc trao đổi giữa cây với môi trường không khí bên ngoài diễn ra nơi các khí khổng (stomata), ở đó khí CO2 hòa tan vào trong túi nước bắt đầu tiến trình quang tổng hợp trong khi khí O2 cùng với hơi nước thoát ra khỏi cây kết thúc tiến trình hô hấp thực vật. Hiệu quả cố định các-bon từ CO2 khí trời thành các hợp chất hữu cơ nơi dòng cây C3 như lúa không cao vì ô-xy sinh ra từ quá trình hô hấp lại có khuynh hướng giành RUBISCO của chu trình quang tổng hợp, thường gọi là chu trình Kelvin. Khi nhiệt độ bên ngoài càng cao, đặc biệt lúc đã vượt quá 20oC thì việc hô hấp càng mạnh, ô-xy sinh ra càng nhiều và cướp lấy RUBISCO làm hạn chế mức độ quang tổng hợp dẫn tới việc cây chậm tăng trưởng hoặc chỉ cho năng suất thấp.

Trong thực tế tự nhiên đã có một số rất ít các loài thực vật như bắp (ngô), mía và cỏ ngọt có tiến trình quang tổng hợp hiệu quả hơn nhờ khả năng cố định thành các tổ hợp 4C tạo thành dòng cây C4 cho năng suất cao. Khí CO2 tại đó không bị bắt ngay bởi RUBISCO mà bởi một chất trung gian tên là phosphoenolpyruvate (PEP) để chuyển hóa thành một chất 4C là oxaloacetic acid (OAA) di chuyển sâu vào trong các mạch lá. Ở đó OAA được RUBISCO tiếp nhận lấy phần các-bon để quang tổng hợp và trả PEP trở lại mặt lá. Việc quang tổng hợp diễn ra trong các thành mạch không bị ô-xy tranh chấp và cây có khuynh hướng phát triển bộ gân phủ dày mặt lá.

Ý niệm chuyển đổi dòng lúa C3 hiện nay thành dòng siêu lúa C4 đã được đưa ra từ nhiều năm trước nhờ phát hiện trong điều kiện tự nhiên cây lúa đã có gene lặn liên quan đến kiểu quang tổng họp PEP-RUBISCO. Các viện nghiên cứu nay tách lập C4 từ các giống lúa đang khai thác bằng cách hạ nồng độ CO2 xuống dưới 50ppm nhằm làm chết các lúa C3. Công tác nhân và chọn lọc giống sẽ tiến hành sau đó với mục tiêu đưa chúng vào trồng đại trà trong 10 năm tới. Đặc tính chung của các giống lúa C4 là tế bào khí khổng không cần mở lớn mà chỉ khép hờ nên giảm bớt nhu cầu tưới nước và có thể đem lên các vùng khô hạn, đồng thời giảm nhu cầu phân đạm vì không phải hoang phí RUBISCO vốn là enzyme chứa tới 15% ni-tơ.

(Theo Báo NN Việt Nam)

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

Gạo không cần nấu cũng chín

Loại gạo không cần nấu cũng chín.
Lúa vẫn đang là cây lương thực chủ đạo không chỉ ở riêng châu Á

LUAGAO - Với giống lúa mới, bạn không phải mất thời gian cho việc vo gạo và nấu chín nữa, chỉ ngâm trong nước là bạn có thể ăn cơm chín và nó chẳng khác gì loại cơm gạo khác mà bạn vẫn thường nấu.

Aghanibora là tên giống lúa mới đặc biệt này, được Viện nghiên cứu gạo trung ương Ấn Độ (CRRI) phát minh và thử nghiệm. Ông Tapan Kumar Adhya – giám đốc CRRI cho biết, giống lúa Aghanibora có thời gian sinh trưởng trong khoảng 5 tháng và đạt năng suất từ 4 đến 5 tấn trên mỗi hecta.

Aghanibora là giống lúa có hàm lượng men phân giải tinh bột thấp và trở nên dẻo mềm sau khi ngâm trong nước. Ông Tapan Kumar Adhya cho biết, bạn có thể ăn gạo sau khi ngâm nó khoảng 45 phút trong nước thường hoặc 15 phút trong nước ấm.

Loại gạo không cần nấu cũng chín., Tin tức - Sự kiện,

Loại gạo này sẽ liệu có trở nên phổ biến? (Ảnh minh họa)

Aghanibora được phát triển từ giống lúa "Komal chawl" nổi tiếng của bang Assam (phía bắc Ấn Độ) chứ không phải gạo biến đổi gene. Lúa "Komal chawl" có khả năng sinh trưởng trong điều kiện thời tiết nóng và ẩm song vẫn giữ được các dưỡng chất và đặc tính mềm của gạo. Aghanibora chẳng có gì khác biệt so với các loại lúa khác đang được trồng ở Ấn Độ.

Ông Tapan Kumar Adhya nói rằng, trong suốt ba năm qua các nhà khoa học của CRRI đã trồng thử Aghanibora trong môi trường nóng và ẩm của bang Orissa để xem nó giữ được đặc tính mềm và các dưỡng chất khi tiếp xúc với nước giống như lúa "Komal chawl" hay không. Và họ rất vui vì các thử nghiệm đã thành công.

Với loại gạo “không cần nấu” này, các nhà khoa học tin rằng việc nấu cơm trở nên dễ dàng hơn, giảm nhẹ công việc của người nội trợ đồng thời có thể tiết kiệm được nhiên liệu dùng để nấu cơm.

------------------------------

Nguồn: 24H.COM.VN (Theo VITINFO)

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009

Sản xuất lúa Japonica - lựa chọn mới của nông dân

LUAGAO - Theo TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp, trên thị trường lúa gạo trong nước, gần đây xuất hiện các giống gạo thuộc loại Japonica có nguồn gốc Nhật Bản với giá bán cao gấp 2 đến 3 lần giá gạo loại gốc Indica. Sự gia tăng nhu cầu đối với lúa gạo chất lượng cao trong nước, đã thúc đẩy mở rộng sản xuất và thương mại loại gạo chất lượng cao mới, gạo hạt tròn Japonica.

Ông Vịnh cho biết, trên thế giới có 2 loại gạo chất lượng cao, đó là gạo hạt dài thuộc loài phụ Indica, được sản xuất ở các nước nhiệt đới và loại hạt tròn thuộc loài phụ Japonica, sản xuất chủ yếu ở vùng lạnh. Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa Japonica tròn, cơm dẻo do có hàm lượng amylose thấp hơn và có chứa amylopectin. Một số giống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong hạt khá cao.

Lúa Japonica là loại hình thấp cây đến trung bình, chống đổ tốt, chịu thâm canh, chịu lạnh khoẻ, có khả năng chống chịu nhiều loại sâu bệnh và có thời gian sinh trưởng từ ngắn đến trung bình. Ưu điểm của lúa Japonica là khả năng chịu lạnh, sinh trưởng ở nhiệt độ thấp xung quanh 15 độ C, tuy nhiên nhiệt độ xuống tới 11 độ C ở giai đoạn trỗ bông sẽ gây hại nặng. Lúa Japonica thường thích hợp với vùng trồng có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới và vùng cao nhiệt đới. Các nước trồng lúa Japonica chủ yếu tập trung ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... trải dài tới Trung cận đông như Ai Cập, Ma-rốc, Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo thống kê của FAO từ năm 1982 - 1994 diện tích trồng lúa Japonica trên thế giới thay đổi không nhiều, nhưng sản lượng lúa tăng 16,6%; chủ yếu nhờ vào tăng năng suất trung bình đạt từ 5 - 5,8 tấn/ha. Tổng sản lượng lúa Japonica trên thế giới chỉ khoảng 100 triệu tấn trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% tổng diện tích trồng lúa thế giới. Nhưng tình hình sản suất lúa Japonica trên thế giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúa Japonica đã lên tới 20% diện tích trồng lúa toàn cầu.

Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa Japonica với tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật Bản 2,1 triệu ha... Diện tích trồng lúa Japonica ở Trung Quốc đã tăng hơn 2 lần trong vòng hai chục năm qua, giá lúa Japonica cũng tăng hơn 2 lần. Chính sách đã có tác động tới thay đổi cơ cấu giống của TQ như một số tỉnh trước đây chủ yếu sản xuất lúa Indica đã thay bằng các giống Japonica, có tỉnh đã nâng diện tích Japonica lên khoảng 80%. TQ xuất khẩu chủ yếu gạo Japonica sang Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.

Theo GS Nguyễn Văn Luật, vào thập niên 90, Viện lúa ĐBSCL đã hợp tác với Viện JIRCAS của Nhật Bản nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa Japonica do các nhà khoa học Nhật mang sang. Tại phía Bắc, Viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp hợp tác với Nhật Bản trồng thử Japhonica ở Thái Bình và một số địa phương khác. Đồng thời DN của Nhật cũng hợp tác với tỉnh An Giang trồng thử nghiệm các giống lúa hạt tròn Japonica. Tại An Giang trong chương trình trồng thử nghiệm giống lúa Japonica hạt tròn, năng suất có thể đạt 8 - 8,5 tấn/ha. Hưng Yên và Thái Bình trong điều kiện vụ xuân giống lúa Japonica có tên ĐS1 đã đạt năng suất 3 tạ/sào (8,1 tấn/ha).

Những năm qua, Viện Di truyền NN phối hợp với các địa phương khảo nghiệm khoảng 50 giống lúa Japonica khác nhau ở các tỉnh phía Bắc. Trong đó, giống lúa Japonica ĐS1 được chọn tạo và nhân giống từ năm 2001, cho năng suất cao, chất lượng tốt, đã được Bộ NN - PTNT công nhận là giống tạm thời. Hiện tại giống ĐS1 đang được mở rộng sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc. Giống ĐS1 trồng được cả hai vụ, thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất vụ xuân đạt trung bình 7-8 tấn/ha, và có nhiều ưu điểm như cứng cây, chịu rét tốt, ít bị sâu bệnh...

Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Hoà Bình, lúa ĐS1 càng lên vùng cao lạnh hơn càng biểu hiện năng suất cao hơn, một số HTX đạt trên 10 tấn/ha. Giá lúa ĐS1 vụ ĐX 2009 nông dân bán ra 7.000đ/kg, tăng gấp 2 lần so với giống Khang dân, trong khi năng suất ĐS1 lại cao hơn. Theo thông báo của Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tại Định Hóa - Thái Nguyên, năng suất lúa ĐS1 đạt trung bình 7,2 tấn/ha; tại Sơn Dương, Tuyên Quang đạt 7,8 tấn/ha; tại Chi Lăng, Lạng Sơn đạt 7,3 tấn/ha. Giá gạo Japonica tại địa phương cao hơn so với các giống khác từ 2.500 - 3.000đ/kg. Chất lượng gạo ngon, dẻo được bà con các dân tộc vùng cao rất ưa thích. Ngoài ra, Viện DTNN đang tiếp tục khảo nghiệm và chọn tạo hàng chục giống Japonica khác, nhân nhanh một số giống có thời gian sinh trưởng từ rất ngắn, ngắn, đến trung bình. Như giống J02 có thời gian sinh trưởng vụ mùa 100-105 ngày, tiềm năng năng suất cao, gạo ngon, có thể tham gia cơ cấu mùa sớm kịp thời vụ sản xuất vụ đông.

PGS-TS Đỗ Năng Vịnh cho biết, Viện sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương miền núi đẩy diện tích sản xuất lúa Japonica lên 10 - 20%, sản lượng chiếm 12 - 24%. Dự kiến sẽ đưa kỹ thuật gieo thẳng vào sản xuất và đưa vụ đông xuân lên sớm hơn nhờ đặc tính chịu lạnh, khai thác các giống có thời gian sinh trưởng ngắn hơn và phát triển sản xuất vụ mùa bảo đảm sản xuất được 2 vụ lúa có năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao, chất lượng gạo cao hơn so với các giống Indica ở cùng khu vực. Khai thác thêm một vụ đông giữa 2 vụ lúa ở một số địa bàn. Gạo Japonica sản xuất ở miền núi, đặc biệt gạo hữu cơ, có thể phục vụ xuất khẩu. Đồng bào các dân tộc chắc chắn sẽ chào đón các giống Japonica vì bản thân họ vốn quen ăn gạo dẻo...


TRƯỜNG GIANG

NGUỒN: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/40940/Default.aspx

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

THÔNG TIN KHOA HỌC VỀ LÚA GẠO

LUAGAO - Tổng hợp các tin khoa học về Lúa Gạo do GS.TS Bùi Chí Bửu cung cấp, được đăng tải trên trang TINKHOAHOC của TS. Hoàng Kim

1. Lúa thơm giá trị cao từ giống gốc Basmati
Báo cáo khoa học của ĐH Cornell, Hoa Kỳ cho thấy gen điều khiển mùi thơm của giống Basmati và các giống lúa được lai từ giống Basmati có giá trị cao đã được thị trường thế giới công nhận. Lúa gạo có từ 2 nhóm loài phụ: indica và japonica. Cả hai đều được trồng và phát triển tại Trung Quốc hơn 8.000 năm. Nghiên cứu mới nhất ấn bản hàng ngày 25-8-2009 tại Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS), khẳng định rằng giống Basmati hạt dài, có mùi thơm được giả định là giống của Ấn Độ, có liên quan mật thiết với japonica về mặt di truyền. Basmati, trồng ở Bắc Ấn Độ, Pakistan và Iran, không phải thuộc nhóm indica như đã từng được giả định trước đây vì tính trạng hạt thon dài của nó. Các giống lúa japonica của Đông Á và Đông Nam Á bao gồm giống lúa làm món ăn sushi (gói với cá sống), có hạt gạo ngắn và dính dẽo. Gen BADH2, mất chức năng thông qua tiến trình chọn lọc tự nhiên, đột biến thành lúa thơm. Nghiên cứu cho thấy có 8 đột biến mới của BADH2 kết hợp với mùi thơm. Nghiên cứu còn cho thấy một đột biến gần đây nhất bao gồm tính trạng mùi thơm của lúa japonica (Basmati) và tính trạng mùi thơm của lúa indica (gạo Jasmine của Thái Lan). Giáo sư Susan McCouch nói rằng: người ta nghĩ rằng tất cả giống lúa của Ấn Độ là loại hình indica, nhưng đó là điều không đúng. Michael Kovach, nghiên cứu sinh Post-doct của Bà McCouch cùng với Bà đã công bố công trình khoa học này. Nghiên cứu được tài trợ bởi Plant Genome Program thuộc quỹ National Science Foundation and the European Union Project METAPHOR. Xem chi tiết http://www.cornell.edu/

2. Lúa Vàng sẽ được thương mại hoá vào năm 2011
Tạp chí Food and Beverage News (India), ra ngày 1-9-2009, đã thông tin rằng giống lúa biến đổi gen giàu vitamin A “Lúa Vàng” (Golden Rice) sẽ được thương mại hoá vào năm 2011. Lúa có hàm lượng carotenoid (beta carotene) cao làm hạt gạo có màu vàng. Chính beta carotene sẽ trở thành vitamin A khi được ăn và chuyển vào cơ thể. Các nhà thống kê của tổ chức WHO cho biết 40% trẻ em ở lứa tuổi 6 tháng đến 5 năm, và 30% trẻ em ở lứa tuổi cắp sách đến trường đều có triệu chứng thiếu vitamin A. Tương tự, 50% phụ nữ mang thai và cho con bú cũng đang có vấn đề do thiếu vitamin A. Công nghệ tạo ra lúa vàng dựa trên nguyên tắc lúa tích tụ beta carotene trên lá, không phải trong hạt gạo. Nhờ thêm vào hai gen phytoene synthase và phytoene desaturase – bằng phương pháp chuyển gen, beta carotene này sẽ chuyển vị được vào trong phôi nhũ hạt gạo. Golden Rice hi vọng sẽ được phát triển tại Philippines vào năm 2011. Thị trường của Ấn Độ, Việt Nam cũng rất có triển vọng để phát triển trong cùng thời điểm này. Giống Golden Rice đầu tiên của thế giới do Dr Ingo Potrykus và Dr Peter Beyer tạo ra vào năm 2000. Sau đó, hai nhóm nghiên cứu của Syngenta, sản xuất ra Golden Rice có hàm lượng beta carotene cao hơn gấp nhiều lần. Golden Rice-1 được phát triền vào năm 2003 và giống Golden Rice-2 vào năm 2005. Xem chi tiết http://www.fnbnews.com

3. Giống lúa kháng bệnh hại trong tương lai
Elie Dolgin đã đăng trên Nature News về giống lúa trong tương lai có tính kháng sâu bệnh hại từ kết quả nghiên cứu của Shuichi Fukuoka và ctv., thuộc Japan's National Institute of Agrobiological Sciences. Họ đã tìm thấy một gen có từ giống địa phương kháng bệnh đạo ôn. Họ lai giống ấy với giống cao sản đang canh tác. Bệnh đạo ôn đã làm mất năng suất từ 30 đến 40%; tương đương với sản lượng thóc đủ nuôi 60 triệu người / mỗi năm. Giống lúa có gen kháng bệnh thường có phẩm chất gạo không mong muốn. Điều này đã được cải tiến trong chương trình lai tạo giống mới. Fukuoka và đồng nghiệp chỉ ra rằng tính kháng bệnh đạo ôn và phẩm chất kém là do các gen bị tách biệt nhau. Xem chi tiết trên tạp chí Science vào tháng 8-2009 hoặchttp://www.nature.com/news/2009/090820/full/news.2009.841.html

4. Thông Báo Hội nghị thương mại Lúa Gạo lần thứ 14
Hội nghị thương mại lúa gạo lần thứ 14, 2009 [14th WORLD RICE COMMERCE 2009]
sẽ được diễn ra tại Bali, Indonesia, vào ngày 8-10 tháng Mười, 2009. Xem chi tiết: http://www.worldricecommerce.com

5.Gen tổng hợp tinh bột trong gạo Thái
Phẩm chất cơm là một trong những tính trạng quan trọng đối với phẩm chất lúa gạo. Nó tuỳ thuộc vào 3 nội dung: hàm lượng amylose, độ bền thể gel, nhiệt độ hoá hồ. 192 mẫu giống lúa Thái Lan được xét nghiệm PCR-SSCP do các nhà nghiên cứu của Đại Học Kasetsart, Thái Lan. Người ta phân lập các alen tại 7 loci điều khiển sinh tổng hợp tinh bột (GBSSI, SSSlIIa, SSSIIIb, SSSIVa, SSSIVb, RBEl and RBE3). Các trình tự nucleotide được đọc đối với từng SSCP patterns được quan sát và báo cáo trong tài liệu của GenBank. Các mẫu giống Oryza Thái Lan thể hiện đa dạng cao về nucleotide so với phân tích trước đây trên các loài của Oryza dựa theo multiple loci.

6. FAO đề nghị mới về an ninh lương thực
FAO vừa gửi cho các Bộ Trưởng Ngoại Giao, Vụ Hợp tác phát triển và nông nghiệp của những thành viên FAO, cơ quan Liên Hiệp Quốc, nhằm tuyên bố trong Hội nghị cấp cao thế giới của các nhà lãnh đạo quốc gia về an ninh lương thực trong tháng 11, 2009 tại Rome. Secretariat contribution to defining the objectives and possible decisions of the World Summit on Food Security, yêu cầu hoàn toàn thực hiện nội dung xoá đói đến năm 2025, và đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực, đảm bảo dinh dưỡng, an toàn cho nhân dân toàn thế giới, ước khoảng 9,2 tỷ người vào năm 2050.
Xem thông báo báo chí của FAO http://www.fao.org/news/story/en/item/29219/icode/

7. Giống lúa chống chịu ngập được công nhận chính thức ở Philippines
Cơ quan NSIC (Philippine Seed Industry Council) vừa chấp thuận cho phép phát triển chính thức giống lúa chống chịu ngập đầu tiên ở Philippines. Đó là giống NSIC Rc194, còn được gọi Submarino 1. Nguồn gốc của nó là giống IR64 có chứa gen Sub1 từ FR13A của Ấn Độ. Nó đã được các khoa học gia IRRI phát triển trong quan hệ hợp tác với các nhà nghiên cứu của Đại Học California-Davis. Submarino 1 đạt năng suất như IR64 (khoảng 4,5 tấn / ha) nhưng nó có thể tăng trưởng và phát triển 10 ngày trong điều kiện bị ngập hoàn toàn trong nước. Viện nghiên cứu lúa Philippines (PhilRice), nơi phân phối giống Submarino 1, thông báo rằng họ đã sản xuất 0,3 ha giống tác giả (breeder seeds) và 0,5 ha giống nguyên chủng vào mùa mưa 2009.

8. Mở được khoá về sự đa dạng của cây lúa
Một hợp tác quốc tế của các nhà nghiên cứu Châu Á, Bắc Mỹ và Châu Âu đã tạo ra khả năng hiểu biết tốt hơn đa dạng di truyền cây lúa; điều này sẽ giúp cho việc cải tiến giống lúa và sản lượng lúa tốt hơn. Xem online Proceedings of the National Academy of Sciences, họ thảo luận về nghiên cứu xem xét bộ gen của 20 loài lúa hoang dại trong chương trình lai tạo giống lúa quốc tế. Họ đang nhắm vào SNP (single nucleotide polymorphisms) hoặc những SNP làm phân biệt rõ các giống lúa. Tổng Giám Đốc Viện Lúa Quốc Tế (IRRI), Tiến Sĩ Robert Zeigler nói rằng "Nếu các nhà chọn giống biết nhiều hơn về kiến trúc di truyền cây lúa, họ sẽ có thể sử dụng chúng hiệu quả hơn rất nhiều. Trong khi chúng ta đang đối diện với thay đổi khí hậu, chúng ta sẽ dựa vào ngày càng nhiều tính chất đa dạng di truyền chưa được khai thác để phát triển giống lúa cải tiến mới". Cộng tác viên đến từ Đại Học Colorado State, ĐH Michigan State, Perlegen Sciences, Inc., ĐH McGill, Viện Max Planck Institute for Developmental Biology, Phòng thí nghiệm Friedrich Miescher Laboratory của Max Planck Society, và ĐH Cornell với sự trợ giúp của “consortium of institutions and donors” bao gồm Generation Challenge Program, và Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ. Xem chi tiếthttp://beta.irri.org/news/

9. Lúa biến đổi gen trong cuộc chiến với thiếu dưỡng chất sắt
Các nhà khoa học của Swiss Federal Institute of Technology (ETH), tại Zurich, Thuỵ Sĩ đã phát triển được giống lúa có khả năng tạo ra dưỡng chất sắt cao gấp 6 lần bình thường trong hạt gạo trắng (đã đánh bóng). Giống lúa có hàm lượng sắt cao có thể chứng minh được rằng chúng ta có đầy đủ khả năng chiến thắng với sự kiện thiếu dinh dưỡng sắt, đặc biệt ở các nước đang phát triển thuộc Châu Á và Châu Phi. Ở đó lúa gạo là nguồn năng lượng chính. Hơn hai tỷ người, chiếm 30% dân số thế giới đang chịu đựng tình trạng suy dinh dưỡng do thiếu sắt; theo nguồn tin của Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO). Hậu quả của thiếu sắt là hội chứng anemia, thiểu năng trí tuệ và hệ thống miễn dịch bị ức chế. Hạt gạo giàu dinh dưỡng sắt được thể hiện bởi 2 gen điều khiển, sản sinh ra enzyme nicotianamin synthase, làm hoạt hoá sắt và protein ferritin, chúng dự trữ sắt. Theo các nhà nghiên cứu này, hoạt động trợ lực như vậy của protein nói trên cho phép cây lúa hấp thu nhiều sắt hơn từ đất và dự trữ chúng trong hạt gạo. Trong tự nhiên, lúa gạo có nhiều sắt, nhưng chỉ bao quanh ở võ lụa hạt gạo. Tại nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, võ lụa này bị bóc tách ra trong điều kiện tồn trữ ở kho vựa. Wilhelm Gruissem, khoa học gia của ETH Zurich's Department of Biology, và đồng nghiệp đã in ấn công trình này trên tạp chí Plant Biotechnology Journal. Ông nói rằng . "Đánh giá đặc tính nông học của dòng lúa giàu sắt này không thể hiện sự đối kháng về năng suất với hàm lượng sắt cao, trừ tính trạng trổ bông sớm hơn". Xem http://www.ethlife.ethz.ch/archive_articles/090717_Eisen_Reis_MM/index_EN bài viết trên tạp chí http://dx.doi.org/10.1111/j.1467-7652.2009.00430.x

10. FAO: Giá lương thực vẫn còn cao ở các nước nghèo
Giá lương thực chủ lực của những nước đang phát triển vẫn còn cao, mặc dù giá quốc tế có chiều hướng giảm, làm cho đời sống của hàng triệu dân nghèo trở nên khó khăn hơn (FAO). Báo cáo gần đây nhất về triển vọng cây trồng và tình trạng lương thực thực phẩm của FAO cho thấy đầu ra của mễ cốc hi vọng đạt 3,4% so với 2,209 tỷ tấn trong năm 2009. Tại 27 quốc gia thuộc sub-Saharan Africa, FAO ghi nhận 80 – 90% giá mễ cốc vẫn duy trì ở mức cao hơn 25% trước khi có khủng hoảng lương thực vào 2 năm trước đây. Sudan là một ví dụ, giá cao lương được báo cáo trong tháng 6 cao gấp 3 lần so với 2 năm trước. Giá bắp của Ethiopia, Kenya và Uganda, cao gấp đôi so với hai năm trước. FAO đã kể ra số lượt thu hoạch giảm, nhập khẩu cao hơn hoặc đứng yên, xung đột dân cư, nhu cầu tăng mạnh giữa các nước láng giềng và các dòng chảy thương mại có tính khu vực, cũng như các nguyên nhân làm cho giá lương thực thực phẩm cao. Tổ chức Liên Hiệp Quốc cho rằng viễn cảnh của mễ cốc 2009 chưa phải ổn định nhất là ở Đông Phi và Tây Phi, cũng như tại Châu Á; bởi vì khởi động bất bình thường của mùa mưa năm nay. Xemhttp://www.fao.org/news/story/en/item/28797/icode/

11. Phân tích phân tử transcript trên lúa lai (superhybrid)
Sử dụng microarray toàn bộ genome oligonucleotide để nghiên cứu profiles của gen LYP9 trong cây lúa và trên giống bố mẹ của nó. Zhu Lihuang và ctv. thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nông Nghiệp Trung Quốc và Trung Tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa Lai Quốc Gia đã công bố cơ sở di truyền và cơ chế phân tử của một giống lúa superhybrid phổ biến. Nó được phát triển từ thập niên 1970s của Yuan Longping, cha đẻ lúa lai Trung Quốc, LYP9 là một trong các giống lúa lai đã góp phần giải quyết vấn đề lương thực Trung Quốc. Phân tích nhóm cho thấy con lai F1 có profile thể hiện giống như bố mẹ. Trong tổng số 22.266 gen thể hiện, các nhà khoa học tìm thấy 7.078 gen được phân chia trên bảy mẫu mô lúa. Theo họ, gen thể hiện được phân hoá thành DGPP (differentially-expressed genes into those between the parents) và DGHP (differentially-expressed genes into those between the hybrid and its parents). Kết quả so sánh cho thấy các gen như vậy được phân hạng theo cơ chế biến dưỡng năng lượng và cơ chế vận chuyển có nhiều DGHP hơn DGPP. Những gen có tính chất differentially-expressed như vậy, đặc biệt bao hàm cơ chế biến dưỡng carbohydrate, là những gen ứng cử viên điều khiển ưu thế lai. Xem tạp chí PNAShttp://dx.doi.org/10.1073/pnas.0902340106

GS.TS BÙI CHÍ BỬU