Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012
Giống lúa Việt ở châu Phi
Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012
Gian nan tiêu thụ lúa gạo cuối năm

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012
Hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp
Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012
Nỗi lo trước vụ lúa hè thu 2012
| Công tác chỉ đạo xuống giống cần tuân thủ các nguyên tắc chung: Bố trí thời vụ né mặn, hạn ở những vùng có nguy cơ ảnh hưởng cao. Gia cố bờ bao, tu sửa hệ thống kênh mương nội đồng. Phải đảm bảo thời gian giãn vụ, cày ải, phơi đất ngay sau thu hoạch tối thiểu là 20 ngày để cách ly nguồn bệnh nhằm đảm bảo năng suất lúa HT. |
Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012
GS.TS Bùi Chí Bửu: Cánh đồng mẫu lớn- chiến lược lớn
| Theo VFA, gạo thơm đặc sản của VN có giá 780- 800 USD/tấn, gạo thơm thường 650-700 USD/tấn. Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu trên 400.000 tấn gạo thơm, cao nhất từ trước đến nay. Năm nay dự kiến đạt khoảng 500.000 tấn. |
Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012
Vị thế mới của gạo Việt
Một thời gian khó
Năm 2011 này, lần đầu tiên Việt Nam đạt vượt qua ngưỡng 40 triệu tấn lúa với tổng sản lượng cả nước đạt tới hơn 41,5 triệu tấn với năng suất bình quân đã vượt mốc 6,1 tấn/ha. Nhưng để đạt được kỳ tích như ngày hôm nay, hạt gạo Việt Nam đã có thời bị thiếu hụt trầm trọng, hàng năm phải đi nhập khẩu một lượng lớn để bù đắp cho sự thiếu đói.

| Các cột mốc trong 22 năm xuất khẩu gạo của Việt Nam: Nếu năm 1989, Việt Nam mới xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, thì 6 năm sau đó đến năm 1995 đã đạt số lượng 2,05 triệu tấn. Ngay sau đó 1 năm (1996) đã tăng vọt lên 3,06 triệu tấn, đến năm 1999, xuất khẩu gạo đạt cột mốc mới với 4,56 triệu tấn. Nhưng kể từ sau năm 2000, số lượng xuất khẩu lại bị tụt xuống ở mốc 3,35 triệu tấn và đến năm 2005 mới thiết lập được mốc mới là 5,2 triệu tấn. Tới năm 2009 đạt cột mốc 6 triệu tấn, năm 2010 đạt 6,8 triệu tấn và năm 2011 đạt 7,2 triệu tấn. |
Thế rồi, luồng gió mới từ Nghị quyết 10 đã đến và giải phóng cho toàn bộ nền nông nghiệp nước ta, biến một nước từ chỗ phải lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu gạo liên tục trong 22 năm vừa qua.
Ông Tạn tâm sự: “Ngay năm 1989, sản lượng lúa cả nước đã đạt 18,99 triệu tấn, đến 1990 đạt 19,22 triệu tấn, rồi 19,43 triệu tấn vào năm 1991 và cứ thế suốt từ 1988 đến nay, sản lượng lúa chỉ có tăng và lên. Đặc biệt, cũng từ 1989, chúng ta đã xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, từ bấy đến nay chỉ toàn xuất khẩu tới ngưỡng 7,2 triệu tấn như năm nay”. Theo ông Tạn, để có được thành công đó là do Đảng, Nhà nước đã thay đổi chính sách về nông nghiệp, nhất là chúng ta đã luật hóa được toàn bộ tư liệu sản xuất đối với nông dân bằng Luật Đất đai năm 1993.
Có lúc đi xin... xuất khẩu
Hiện nay, hạt gạo Việt Nam đã vươn đi gần như khắp thế giới. Nhưng để có được thành công và những thuận lợi đó, những người làm công tác xuất khẩu gạo đã trải qua những thời kỳ vô cùng gian khó.
Là người điều hành xuất khẩu gạo ngay từ những ngày đầu, hạt gạo Việt Nam vươn ra khỏi bản đồ hình chữ S, ông Nguyễn Đăng Chi - nguyên Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhớ lại: “Khi chúng ta mới tham gia xuất khẩu gạo, trên thị trường thế giới cung vẫn còn lớn hơn cầu, nước xuất nhiều hơn nước nhập, nên dạo đó, có những hợp đồng khi tổ chức đấu thầu, chúng tôi đã phải đi “lobby” cả đến cấp Chính phủ nước đó. Thậm chí, có thời điểm xuất khẩu khó khăn quá, chúng tôi đã phải thảo cả thư cho Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ký gửi cho Tổng thống Philippines chiếu cố nhập khẩu gạo cho chúng ta”.

Theo ông Chi: “Trong trước mắt và có lẽ cả lâu dài, xuất khẩu gạo nhìn chung thuận lợi nhiều hơn do chúng ta có được cơ hội do đất đai ngày càng thu hẹp, dân số thế giới lại tăng, nguy cơ đói của thế giới vẫn còn. Cộng với kinh nghiệm nhiều năm trong xuất khẩu với nhiều thị trường, bạn hàng lâu năm, chúng ta sẽ vẫn rất thuận lợi về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, vai trò điều hành, nhất là của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) phải được xây dựng lại mạnh hơn, đặc biệt giữa các doanh nghiệp phải đoàn kết, bảo được nhau. Như thế, xuất khẩu mới đem lại hiệu quả”.
“Vương miện” phải dành cho nông dân
Có một thực tế hiện nay, mặc dù riêng ngành lúa gạo xuất khẩu đã đem lại giá trị tới 3,5 tỷ USD/năm về cho nước ta, nhưng thực tế, từ sau năm 1975 đến nay những người trồng lúa vẫn là những người nghèo nhất.
TS Lê Hưng Quốc - nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho rằng: “Thực tế, cái vị trí số 1 hay số 2 chẳng có gì vinh dự, mà điều quan trọng là người nông dân được hưởng bao nhiêu phần trăm lợi nhuận trong những con số xuất khẩu đó. Cho nên, theo tôi chiếc “vương miện” số 1 đó phải được dành cho những người nông dân trực tiếp làm ra từng hạt gạo”. Cũng theo ông Quốc, trên thế giới đã có nhiều nước, thậm chí người ta còn điều chỉnh vị trí xuất khẩu của mình từ số 1 xuống số 2, từ số 2 xuống số 3… để đem lại hiệu quả cho người sản xuất.
Cùng chung tư tưởng với ông Quốc, ông Nguyễn Đăng Chi nhận định, vươn lên số 1, số 2 về số lượng không khó nếu các nước thi nhau xuất khẩu giá thấp. Ông nói: “Chúng ta cần tập trung vào nâng cao hiệu quả xuất khẩu, đảm bảo cho nông dân có lợi trong từng cân lúa bán ra với mức lãi 30% thậm chí có thể 50% và cao hơn nữa”.
Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát: Cây lúa là thế mạnh của nước ta Nói về định hướng cho ngành sản xuất lúa gạo, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cho biết: “Trên thực tế, một mặt chúng ta phát triển sản xuất lúa gạo để đảm bảo nhu cầu trong nước, nhưng mặt khác chính cây lúa là lợi thế của nước Việt Nam. Cây lúa đem lại lợi ích cho nước Việt Nam và cho những người nông dân trồng lúa. Không dễ gì tìm được cây khác có hiệu quả hơn trên những vùng đất trồng lúa truyền thống của chúng ta. Đây là sự sàng lọc của lịch sử”. Theo ông Phát, ĐBSCL của nước ta là một trong những vùng trồng lúa nước tốt nhất trên thế giới và không phải ngẫu nhiên mà nước ta trở thành nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 tuy với diện tích đất rất nhỏ hẹp. Vì cây lúa có lợi thế và nhìn lại quá trình hơn 20 năm vừa qua khi chúng ta đổi mới, có thể thấy nền nông nghiệp của chúng ta chỉ có thể phát triển được khi chúng ta tập trung vào phát huy những gì là thế mạnh của chúng ta. Cây lúa là một trong những thế mạnh của nền nông nghiệp và của cả nước. Do đó, chúng ta nên tiếp tục phát huy và nên gìn giữ mảnh đất màu mỡ ấy cho muôn đời sau. Không phải hôm nay chúng ta xuất khẩu nhiều gạo là để làm an ninh lương thực cho thế giới, mà chúng ta làm ra hạt gạo trước hết là vì chúng ta, vì đất nước chúng ta”. Ngọc Lê (ghi) |
Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012
GIÁ TRỊ MANG LẠI TỪ GẠO THAN
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012
Vui Tết không quên ruộng đồng: Đề phòng dịch hại lúa ĐX
LUAGAO - Cho đến tuần đầu tháng 1/2012, ĐBSCL vẫn còn một vài địa phương chưa gieo sạ xong vụ lúa ĐX. Phần lớn diện tích đất lúa chậm trễ gieo sạ thuộc vùng chân ruộng sâu, hạ tầng thủy lợi không đảm bảo chủ động bơm tát.
Theo dự đoán ban đầu của Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng, ảnh hưởng lũ năm 2011 khá lớn, nước rút chậm và tác động triều cường biển Đông nên lúa vụ ĐX xuống giống trễ hơn lịch thời vụ. Tại Cần Thơ, đến cuối tháng 12/2011, nông dân mới gieo sạ khoảng 88.000 ha. Đợt gieo sạ sớm tại vùng thủy lợi chủ động nguồn nước, đến nay lúa đã gần 2 tháng tuổi. Ước có khoảng 60.000 ha lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh và khoảng 2.000 ha làm đòng.
Để đề phòng dịch bệnh hại lúa xảy ra ngày giáp tết, Sở NN-PTNT Cần Thơ triển khai phân công cán bộ nông nghiệp, trạm BVTV các quận huyện trực, theo dõi tình hình sâu bệnh và khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng.
TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: Theo kế hoạch vụ lúa ĐX, ĐBSCL trồng 1.550.000 ha, đến ngày 10/1/2012 tiến độ xuống giống đạt hơn 95%, còn hơn 60.000 ha vẫn tiếp tục xuống giống. Các địa phương khuyến cáo lịch xuống giống lúa ĐX sớm bắt đầu từ đầu tháng 10/2011, vào tháng 11 tập trung gieo sạ cao điểm đồng loạt và đến đầu tháng 12 kết thúc.
Tuy nhiên vụ lúa ĐX năm nay nước lũ rút chậm, nhiều vùng nội đồng nước còn ngập sâu, đến tháng 11/2011 tiến độ xuống giống chỉ đạt 50%, phần diện tích còn lại gieo sạ trong tháng 12/2011 và dự tính trễ lắm đến đầu tháng 1/2012 xuống giống dứt điểm.
Việc xuống giống chậm trễ khiến ngành nông nghiệp các tỉnh lo lắng. Nông dân canh tác ở những vùng lúa xuống giống chậm có thể phải đối phó với hạn, mặn xâm nhập giai đoạn cuối vụ; ảnh hưởng tới bố trí lịch thời vụ cho vụ HT, lúa vụ 3 trong năm.
Thế nhưng mùa lũ cũng đem lại lợi ích cho vùng đất lúa hai bên sông Tiền, sông Hậu. Lũ mang phù sa màu mỡ tưới tắm đồng ruộng nên lúa phát triển tốt. Ngành nông nghiệp một số địa phương khuyến cáo nông dân sử dụng hạn chế các loại phân đạm, chỉ bón ở mức hợp lý và không nên lạm dụng chất kích thích, phân bón lá.
Thời tiết những ngày cận tết se lạnh, một số nơi có sương sớm buổi sáng dễ gây bệnh đạo ôn, cháy bìa lá. Hiện nay bệnh đạo ôn lá xuất hiện ở hầu hết các tỉnh trong vùng với diện tích nhiễm là 22.720 ha, giảm 14.752 ha so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao trên 20%. Các tỉnh xuất hiện bệnh đạo ôn lá phổ biến như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Long An, Bạc Liêu…
Về bệnh đạo ôn cổ bông, có 8.653 ha nhiễm bệnh, giảm 748 ha so cùng kỳ năm trước, tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao tỷ lệ trên 20%. Bệnh này xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh…
Bệnh ốc bươu vàng tưởng chừng sau lũ lớn về sẽ sinh sôi nhiều, nhưng đến nay chỉ có 20.665 ha nhiễm ốc bươu vàng, giảm 14.257 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật số phổ biến 2-4 con/m2, nơi cao trên 6 con/m2 (500 ha). Ốc bươu vàng xuất hiện và gây hại phổ biến ở các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hậu Giang… Bên cạnh đó, bệnh sâu cuốn lá nhỏ có 11.650 ha bị nhiễm, giảm 7.082 so với cùng kỳ năm trước, mật số phổ biến từ 10-20 con/m2, nơi cao trên 40 con/m2 (100 ha).
Các tỉnh xuất hiện sâu cuốn lá nhỏ là Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu… Ngoài ra, một số đối tượng dich hại khác như bệnh bạc lá (9.126 ha), bệnh đốm vằn (6.458 ha), bệnh lem lép hạt (5.354 ha), chuột (4.660 ha), sâu đục thân (2.687 ha).
Ông Trần Ngọc Thể, Phó Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hậu Giang cho biết: Tổng diện tích lúa ĐX bị nhiễm các loại dịch hại trên 8.700 ha, tăng 3.394 ha. Trong đó 4.325 ha nhiễm rầy nâu, 2.479 ha nhiễm bệnh đạo ôn, 1.169 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại và một số sâu bệnh khác.
Dự báo trước Tết Nguyên đán còn một đợt rầy nở, do đó bà con nông dân cần cảnh giác, đề phòng sâu rầy tấn công trên diện rộng. Mặt khác, thời tiết se lạnh là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh và gây hại trà lúa ở giai đoạn đẻ nhánh. Vì vậy khi phát hiện trên đồng ruộng có vết chấm kim, bà con nên sử dụng các loại thuốc đặc trị đạo ôn để phòng trừ. Ngoài ra, trà lúa ĐX đã xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên giống lúa IR 50404 làm 43 ha nhiễm bệnh.
Ở Vĩnh Long rầy nâu đã xuất hiện nhưng mật độ còn trong vòng kiểm soát, trong khi đó bệnh đạo ôn đang có chiều hướng tăng. Hiện tại, đã có trên 1.044 ha lúa ở giai đoạn đẻ nhánh, đòng trỗ tại các huyện Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn và Vũng Liêm bi bệnh đạo ôn với tỷ lệ từ 6-14%. Bệnh đang tiếp tục phát sinh và gây hại trên trà lúa gieo trồng giống nhiễm, sạ dầy, bón thừa phân đạm.
Chi cục BVTV Vĩnh Long khuyến cáo nông dân bám sát đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh để phòng trị kịp thời. Khi bệnh chớm xuất hiện có thể sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị phun xịt theo “4 đúng”. Bệnh đạo ôn trên bông có thể phòng ngừa bằng cách xử lý thuốc đặc trị trước và sau trổ 7 ngày. Mặt khác cần bón phân cân đối giúp cây lúa khỏe, tăng cường bón phân kali cho lúa cứng cây, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất lợi của thời tiết. Hạn chế tối đa việc phun các loại thuốc gốc lân hữu cơ phổ rộng hoặc thuốc có gốc cúc tổng hợp trừ sâu ăn lá, để bảo tồn thiên địch. Tùy theo sự xuất hiện và gây hại của từng đối tượng mà có biện pháp xử lý phù hợp. Các trạm BVTV phải theo dõi tình hình dịch bệnh và báo cáo trước 14 giờ hàng ngày về Chi cục, Sở NN- PTNT, Trung tâm BVTV phía Nam và Cục BVTV, Cục Trồng trọt.
| Cục BVTV cảnh báo hiện nay trong toàn vùng ĐBSCL có 41.881 ha lúa bị nhiễm rầy, tăng 10.094 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật độ trung bình 1.000-2.000 con/m2, nơi cao trên 3.000-6.000/m2 (khoảng 4.899 ha). Rầy nâu xuất hiện tập trung ở Bạc Liêu, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long. Bệnh VL, LXL trong vùng cao điểm có 48,5 ha bị nhiễm, tăng 48,5 ha so với cùng kỳ, chủ yếu ở Hậu Giang, Đồng Tháp. |
Tại Đồng Tháp, rầy nâu đã xuất hiện và gây hại 707,5 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, đòng trổ và hiện đã có 15 ha nhiễm nặng, mật độ 3.000- 5.000 con/m2; 114 ha nhiễn trung bình, mật độ 1.500 - 3.000 con/m2, còn lại nhiễm nhẹ. Ngoài ra, bệnh đạo ôn trên lá đã gây hại 3.425 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng; trong đó có 10 ha nhiễm trung bình. Bệnh VL-LXL đã xuất hiện và gây hại rải rác. Ngành nông nghiệp tỉnh này khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu cho lúa dưới 40 ngày sau sạ nhằm hạn chế ảnh hưởng thiên địch, tránh bộc phát dịch hại ở giai đoạn sau.
Ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang cho biết: Trong những ngày nghỉ tết bệnh đạo ôn có khả năng phát triển và giống IR 50504 là dễ nhiễm nhất. Chính vì vậy đối với những trá lúa trên những cánh đồng xả lũ cần bón phân cân đối, tránh để dư đạm. Vụ ĐX 2011- 2012 xuống giống trễ hơn 15- 20 ngày so với cùng kỳ năm trước nên trà lúa làm đòng và trổ rơi vào những ngày tết.
Hiện nay, bên cạnh công tác phòng chống dịch hại, Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng cho biết đang chuẩn bị khắc phục hiện tượng thiếu nước, xâm nhập mặn cuối vụ ĐX 2011-2012 và đầu vụ HT sớm 2012 ở các huyện thuộc vùng ven biển; đồng thời khuyến cáo nông dân thăm đồng thường xuyên phát hiện và quản lý kịp thời các đối tượng rầy phấn trắng, nhện gié, muỗi gây lá hành, đạo ôn cổ bông. Với diễn biến thời tiết khá thuận lợi và hoạt động kiểm soát phòng chống dịch hại tốt, kỳ vọng vụ lúa ĐX tiếp tục thắng lợi lớn.
| Ông Phạm Văn Quỳnh (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Cần Thơ: Không chủ quan, lơ là Đến thời điểm này diện tích xuống giống vụ lúa ĐX ở Cần Thơ là 88.000 ha, đạt 100% kế hoạch. Mặc dù năm nay đất được tăng lượng phù sa do lũ lớn, giúp lúa phát triển nhanh, tốt nhưng cũng rất dễ tạo cơ hội cho sâu bệnh và rầy nâu tấn công trong những ngày tết. Ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con nông dân, trong những ngày vui xuân đón tết không nên lơ là thăm đồng ruộng để đảm bảo thắng lợi vụ lúa ĐX. Qua tết, Cần Thơ sẽ thu hoạch khoảng 1.000 ha lúa ĐX sớm. Hiện nay, giá lúa trên 5.000 đ/kg, đảm bảo nông dân có thể lãi trên 30%. Hy vọng đầu năm mới Nhâm Thìn giá lúa tăng cao hơn. Ông Đoàn Chí Vững, PGĐ Sở NN-PTNT Đồng Tháp: Phòng ngừa là chính Vụ lúa ĐX năm nay lịch xuống giống có trễ hơn so với các năm, nhưng đến thời điểm này tỉnh Đồng Tháp đã xuống giống hoàn tất (trên 207.500 ha). Đồng Tháp là tỉnh đầu nguồn nên bị thiệt hại nhiều do lũ nhưng bù lại lũ cũng giúp bà con nông dân giảm được chi phí phân bón rất lớn trong vụ ĐX này. Năm nay lịch nghỉ tết khá dài so với mọi năm. Chúng tôi luôn khuyến cáo bà con nông dân không được chủ quan trong những ngày tết. Trong chăm sóc lúa phải giảm bón phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ dẫn đến cây đổ ngã, năng suất kém. Thông thường hàng năm vụ lúa ĐX có đợt rầy nâu bùng phát, nếu không kịp thời phát hiện ngăn chặn sẽ dễ bị cháy rầy. Chính vì vậy biện pháp phòng ngừa được đặt lên hàng đầu. Ông Nguyễn Văn Đồng (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Hậu Giang: Coi chừng rầy nâu Đến thời điểm này nông dân Hậu Giang đã hoàn thành việc xuống giống 77.000 ha lúa ĐX theo kế hoạch. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số diện tích nhỏ lẻ, điều kiện khó khăn không thể xuống giống tập trung theo lịch thời vụ, nông dân đang tiếp tục gieo sạ, nhiều khả năng diện tích lúa ĐX 2011-2012 của tỉnh sẽ đạt 80.000 ha. Nhìn chung, trà lúa gieo sạ tâp trung trong tháng 11 và 12 hiện đang phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, bà con đang tích cực chăm bón để ra giêng sẽ có vụ mùa bội thu. Về tình hình dịch bệnh trên lúa, tới thời điểm này đã phát hiện 43 ha lúa bị bệnh VL-LXL, chủ yếu ở giống IR 50404, với mức độ gây hại từ 5-10%, tập trung ở TP Vị Thanh. Ngành đã hướng dẫn bà con cách xử lý để tránh lây lan. Toàn tỉnh hiện có trên 4.000 ha lúa bị nhiễm rầy với mật độ trung bình. Năm nay thời gian nghỉ tết dài nên ngành khuyến cáo bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng, để kịp thời phát hiện và phun thuốc phòng trừ. Riêng đối với các ngành chuyên môn như BVTV, Thú y… chúng tôi chỉ đạo phải phân công người túc trực 24/24 để nắm bắt tình hình dịch hại trên địa bàn, khuyến cáo, hướng dẫn bà con cách xử lý khi có dịch bệnh xảy ra. Ông Trần Quang Giàu, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Kiên Giang: Dịch bệnh rất dễ xảy ra Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, trong dịp Tết Nguyên đán sẽ có đợt thời tiết lạnh kéo dài, đây sẽ là cơ hội tốt để một số dịch bệnh trên lúa bùng phát mạnh như: đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông. Trong khi đó, tết năm nay thời gian nghỉ dài, nông dân thường ít đi thăm đồng vào những ngày này nên nguy cơ dịch bệnh rất dễ xảy ra. Vì vậy, ngành khuyến cáo nông dân phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm dịch bệnh và phòng trị kịp thời. Nếu ruộng lúa đã nhiễm hai loại bệnh nói trên thì phải ngưng ngay việc bón phân đạm, bơm nước trên ruộng đầy đủ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa và chọn các loại thuốc đặc trị để phun xịt. Đối với các giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông cần chủ động phun thuốc vào giai đoạn trước và sau khi trổ để phòng ngừa. Trong suốt thời gian nghỉ tết, Chi cục sẽ phân công cán bộ theo dõi, điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ để kịp thời xử lý. Đ.T.Chánh - L.H.Vũ |
Theo: Báo NNVN
Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011
Thị trường phân bón: Vẫn lo chuyện giá tăng, hàng giả
![]() |
Cá c doanh nghiệp đang tích cực sản xuất để cung cấp phân bón cho sản xuất vụ đông xuân. |
Bộ NNPTNT khuyến khích nông dân sử dụng các loại phân bón có chứa các chất tăng hiệu suất như: NEB - 26, Agrotain và tăng cường sử dụng phân tổng hợp NPK, phân hữu cơ, vi sinh... để giảm chi phí sản xuất.
Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011
ĐBSCL: Phát triển cánh đồng mẫu lớn: Nông dân giảm chi, bội thu
LUAGAO - Việc mở rộng cánh đồng mẫu lớn là xu hướng sản xuất lúa tất yếu trong thời gian tới, cần tiếp tục mở rộng, không phải đắn đo.
![]() |
Thu hoạch lúa trên cánh đồng mẫu lớn ở Long An. |


Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011
Lúa gạo Việt Nam: Năng suất cao, tổn thất lớn
Đó là nhận định chung tại các cuộc hội thảo khoa học trong khuôn khổ Festival Lúa gạo Việt Nam lần hai ở tỉnh Sóc Trăng (từ ngày 8 đến 11-11).
Lúa ở nhiều địa phương ĐBSCL đạt năng suất bình quân 7 tấn/ha/vụ, được cho là cao nhất thế giới. Đặc biệt, giống OM6976 được đưa vào khảo nghiệm ở nhiều tỉnh ĐBSCL đạt năng suất 9-11 tấn/ha/vụ mà Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống-Sản phẩm cây trồng vùng Nam Bộ đánh giá “có thể coi là sự đột phá về năng suất”.
Trong 3 năm từ 2008 đến 2011, ở ĐBSCL, có hàng trăm giống lúa lai tạo từ các cơ sở nghiên cứu đưa ra khảo nghiệm và đã được phép sản xuất đại trà 31 giống, sản xuất thử 48 giống. Ước tính, diện tích sản xuất giống mới mỗi năm đạt 600.000 – 800.000 ha.
Trong đó, khoảng 90% giống lúa đến từ Viện Lúa ĐBSCL và nơi đây đã chọn được những giống lúa ngắn ngày giàu chất sắt, kháng sâu bệnh và năng suất cao, thích nghi vùng nhiễm phèn mặn. Viện Nghiên cứu Duyên hải Nam Trung Bộ có giống chịu hạn, trồng ở Tây Nguyên đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ; trồng ở Nam Trung Bộ đạt 6,5 tấn/ha/vụ.
Thành công trong công tác giống còn phải kể đến việc phổ biến rộng rãi cho nông dân với chủ trương khuyến khích cộng đồng làm giống. Hạt giống đầu dòng từ các cơ sở nghiên cứu chỉ đáp ứng 3 – 5% diện tích gieo trồng, nhưng ở tỉnh An Giang, 90% diện tích gieo sạ sử dụng giống tương đương xác nhận, nhờ hàng trăm tổ và hộ nông dân sản xuất giống.
Mất hơn 10.000 tỷ đồng/năm
TS Phạm Văn Tấn ở Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho biết, ĐBSCL có mức tổn thất sau thu hoạch lên tới 13,7%, trong khi Ấn Độ có tỷ lệ 6%, Nhật Bản 3,9-5,6%. Tổn thất lớn ở 2 công đoạn: sấy 4,2% và tồn trữ 2,6%.
Tổng sản lượng lúa của ĐBSCL năm 2011 là 23 triệu tấn; tổn thất ở hai khâu này là gần 1,6 triệu tấn. Với giá 7.000 đồng/kg, số tiền mất là hơn 10.000 tỷ đồng.
Tổn thất từ sấy còn dẫn tới tổn thất trong xay xát ở mức cao 3%. Lúa không được sấy đúng kỹ thuật, không đạt độ ẩm cần thiết 13-14% nên khi xay xát, hạt gạo nguyên và trắng thu được rất thấp. Một nghiên cứu của Đại học Nông lâm TPHCM cho thấy, lúa có độ ẩm 14% khi xay xát sẽ được 50% gạo nguyên, nhưng nếu độ ẩm 16% thì gạo nguyên chỉ còn 34%. Hiện nay, lúa sấy đúng kỹ thuật của ĐBSCL chỉ khoảng 38% tổng sản lượng.
TS Tấn cho biết, quy trình công nghệ sau thu hoạch ở ĐBSCL hiện nay là quy trình ngược. Lúa thu hoạch xong được nông dân và thương lái phơi sấy sơ qua, đem bán cho doanh nghiệp xay xát, lau bóng, khi đã thành gạo rồi mới tiếp tục sấy đến độ ẩm 14% để đóng bao tiêu thụ. Tình trạng này kéo dài có nguyên nhân ở công nghệ sấy lúa lạc hậu.
ĐBSCL sử dụng lò sấy tĩnh vỉ ngang và sấy đứng, không thể sấy được lúa có độ ẩm trên 30%, mà hầu hết lúa hè thu ở ĐBSCL có độ ẩm rất cao lại cần sấy trong thời gian ngắn vì gieo sạ đồng loạt để tránh rầy và thu hoạch trong mùa mưa. TS Tấn đề nghị “cần công nghệ sấy lúa mới”.
Theo nhiều chuyên gia, cần tổ chức lại chuỗi cung ứng sau thu hoạch thật gọn và hiệu quả. Trong đó, huấn luyện cũng như đầu tư cho nông dân và thương lái để họ có khả năng sấy lúa đến độ ẩm 18-25% là rất quan trọng, sau đó doanh nghiệp sấy tiếp đạt độ ẩm 14% trước khi đưa vào xay xát.
Theo: 24h.com.vn
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011
VFA không muốn chia nhỏ “chiếc bánh” xuất khẩu gạo
VFA muốn có điểm dừng chứ để tăng tới 200-300 DN thì giống như TPHCM, đông xe quá dẫn tới kẹt... Tuy nhiên, nếu “hãm” lại thì trật quy định luật pháp...
“Miếng bánh” quá... ngon
Theo tính toán của VFA, xuất gạo cả năm 2011 này sẽ vượt qua mốc 7 triệu tấn, thu về hơn 3 tỉ USD (năm 2010 cả nước xuất khẩu 6,89 triệu tấn gạo, thu về 3,25 tỉ USD).
Đáng lưu ý, theo VFA, trong 9 tháng vừa qua, giá xuất khẩu bình quân FOB đạt trên 520USD/tấn - tăng hơn 133USD/tấn so với cùng kỳ. Dù giá tăng nhưng từ nay đến cuối năm, giá lúa gạo khó mà tụt xuống, thậm chí sẽ có lợi cho cả quý I/2012. Bởi thị trường xuất khẩu biến động theo chiều hướng thuận lợi cho Việt Nam. Cụ thể, thị trường hiện đã hình thành 2 cấp. Một là nhu cầu gạo cấp thấp, giá rẻ với nguồn cung từ Ấn Độ. Hai là nhu cầu gạo cao cấp, giá cao từ Thái Lan, Việt Nam.
Với gạo cấp cao Thái Lan - nước tác động lớn đến giá gạo thế giới - áp dụng chính sách hỗ trợ nâng giá lúa sẽ khiến giá gạo tăng cao - đạt mức 750 - 800USD/tấn. Điều này chưa hẳn được nhiều nước nhập khẩu chấp nhận, bởi những nước này đa phần đang chịu lạm phát. Khả năng các nước đổ sang tìm nguồn cung từ Việt Nam là điều dễ nhận thấy. Với thị trường gạo cấp thấp, trung bình, Ấn Độ là nước cạnh tranh gay gắt với Việt Nam. Hiện Ấn Độ đã công bố bán 2 triệu tấn gạo ra thị trường thế giới. “Với sản lượng này thì Ấn Độ chưa đủ làm giảm nhiệt giá gạo, trừ khi họ tuyên bố bán nhiều hơn. Nhưng theo dự đoán của chúng tôi thì Ấn Độ khó có khả năng này, vì phải tăng cường chính sách ANLT” - ông Bảy cho biết.
Trong khi đó, Việt Nam ngoài việc có thể cạnh tranh thị phần gạo cấp cao với Thái Lan trong lúc họ biến động, thì có thể giành được cả thị trường gạo cấp thấp và trung bình ở gần địa giới, bởi cước vận chuyển thấp, chất lượng và nguồn hàng ổn định hơn Ấn Độ.

Bất ngờ ngoài toan tính
Bên cạnh sự khấp khởi, VFA lại đang dấy lên nỗi “băn khoăn”, khi đến thời điểm này, đã có 125 DN được Bộ Công Thương cấp phép đủ điều kiện xuất khẩu gạo theo Nghị định 109, chưa kể 4 DN liên doanh với nước ngoài. Đáng lưu ý, trong số đó có 29 DN chưa bao giờ xuất khẩu gạo, đa phần làm ngành nghề khác, nhưng trước “miếng bánh” xuất khẩu gạo đã góp vốn liên kết với DN có kho chứa đáp ứng các điều kiện theo Nghị định 109.
Nhiều DN khác vẫn tiếp tục củng cố năng lực và nộp hồ sơ đăng ký xuất khẩu gạo. Thực tế này làm bất ngờ nhiều người. Bởi mục tiêu của Nghị định 109 là loại bỏ những DN nhỏ lẻ, không đủ năng lực, không đầu tư kho bãi, đầu tư cho nông dân nhưng mua bán “chụp giật” phá giá, gây hỗn loạn thị trường, làm ảnh hưởng uy tín gạo Việt Nam. Khi nghị định “hình hài”, VFA từng tin rằng với những quy định chặt chẽ đòi hỏi DN phải có vốn rất lớn thì sẽ chỉ còn dưới 100/262 DN đang xuất khẩu gạo.
Nên ngoài 125 DN đã được cấp phép, trước việc các DN tiếp tục nộp hồ sơ, ông Bảy đã không giấu giếm toan tính của VFA: “Quan điểm của VFA là phải có điểm dừng. Chứ lên tới 200-300 DN xuất khẩu gạo, lượng gạo có giới hạn. Nếu miếng bánh cứ chia nhỏ, mỗi DN chia nhau ít gạo để xuất thì sẽ càng làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Giống như tình trạng xe cộ ở TPHCM, phải tính toán lượng dân cư, đường sá để quy định bao nhiều đầu xe là vừa. Chứ vô đông quá, tắc đường thì hại nhiều hơn lợi!” - ông Bảy nói.
Tuy nhiên, nếu “người ta” tìm cách hãm và không cho DN đủ điều kiện đăng ký xuất khẩu gạo, lại vi phạm Luật DN và các quy định khác của pháp luật. Nên các cơ quan chức năng hiện đang loay hoay tìm giải pháp.
Theo: 24h.com.vn
Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011
Cây lúa thời hội nhập
LUAGAO - Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.
Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.
- Thưa PGS, xin ông cho biết có những yêu cầu nào để nông dân có thể đưa được lúa gạo của mình ra thị trường nước ngoài cạnh tranh?
PGS. MTP: Nông dân cá thể, nông dân bình thường khó có thể trực tiếp đưa sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Như vậy để có thể đưa sản phẩm ra nước ngoài nông dân cần: Liên kết tổ chức sản xuất, liên hệ với đầu ra ký kết hợp đồng trước khi sản xuất. Cần lưu ý: sản phẩm phải đạt chất lượng, có độ đồng đều cao và bảo đản đủ số lượng để cung cấp cho bên mua đúng hợp đồng đã ký kết. Nông dân sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt được doanh nghiệp đầu ra chấp nhận thu mua và xuất khẩu.
- Ông có yêu cầu quan tâm hơn nữa chất lượng lúa gạo, vậy phải làm gì để đạt được yêu cầu này?
PGS. MTP: Chất lượng lúa gạo phụ thuộc: đặc điểm giống, quy trình canh tác 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, thực hành nông nghiệp tốt, thu hoạch đúng độ chín, tăng cường các biện pháp bảo vệ hạt lúa sau thu hoạch (phơi, sấy, tồn trữ, bảo quản), công nghệ chế biến, xay xát và bảo quản, tồn trữ hạt gạo. Như vậy cần phải làm các việc sau: 1/ Cần xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất và hạ tầng cho vùng sản xuất lúa (theo quy hoạch), tăng cường liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo. 2/ Tăng cường công tác nghiên cứu và xác định cơ cấu giống lúa phù hợp cho từng vùng sinh thái, có phương án sản xuất, nhân giống, cung ứng giống hợp lý (xã hội hóa công tác giống) để có thể đưa giống tốt ra sản xuất ngày càng cao. 3/ Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và khuyến nông trên cây lúa. 4/ Tăng cường cơ giới hóa (tất cả các khâu sản xuất lúa), đặc biệt là khâu thu hoạch, sấy lúa, bảo quản hạt lúa. 5/ Triển khai nhanh chương trình sản xuất lúa theo Viet GAP và nhà nước có chính sách hỗ trợ để thực hiện chương trình này.
- Còn hạ giá thành, thực tiễn phải làm gì?
PGS. MTP: Nông dân không ngừng học hỏi và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trên cây lúa, nông dân liên kết sản xuất để có thể áp dụng các TBKT như 3G3T, 1P5G, cơ giới hóa và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp đầu vào (cung ứng giống, phân bón, thuốc BVTV, dịch vụ làm đất, tưới nước…) và doanh nghiệp đầu ra (bao tiêu sản phẩm).
- Giải pháp cho việc thu hoạch và sau thu hoạch rõ, nhưng vướng chỗ nào, ta thực hiện không đúng được các giải pháp?
PGS. MTP: Việc áp dụng máy gặt đập thu hoạch lúa trong các năm qua đã làm tốt. Số lượng máy GDLH đã tăng rất nhanh ở DBSCL từ 497 máy (7/2007) đến nay (7/2011) là trên 6.500 máy và có thể tiếp tục tăng nhưng theo tôi là chưa bền vững. Giải pháp sắp tới đề xuất: (i) nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp máy GDLH trong nước; (ii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ gặt đập liên hợp; (iii) có chính sách cho vay vốn hỗ trợ lãi suât mua máy GDLH; (iv) có chính sách đẩy mạnh đầu tư cho công tác nghiên cứu về cơ giới hóa trong sản xuất lúa. Về sấy, hiện nay có 6.500 lò sấy quy chuẩn (4t mẻ) là trên 9.000 lò sấy đáp ứng khoảng 30% sản lượng lúa vụ Hè Thu ở ĐBSCL. Giải pháp sắp tới: (i) doanh nghiệp thu mua lúa, xuất khẩu gạo cần có vùng nguyên liệu và liên kết với kho tàng, máy sấy, tồn trữ, bảo quản lúa; (ii) có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất ra các máy sấy thích hợp; (iii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ sấy lúa; (iv) cho vay vốn hỗ trợ lãi suất cho nông hộ mua máy sấy .
- “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, theo ông diễn đàn Nông nghiệp nên tập trung những vấn đề nào?
PGS. MTP: (i) Thông tin về triển vọng và giá cả, thị trường xuất khẩu gạo của VN trong năm 2011 và các năm sắp tới; (ii) Các chính sách về bảo hiểm nông nghiệp, bình ổn giá cả cho lúa gạo; (iii) Thông tin về các TBKT mới nhất ứng dụng trên cây lúa đặc biệt là các giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu; (iv) Thông tin về chính sách của nhà nước về quy hoạch, sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, vay vốn tín dụng, hỗ trợ sản xuất; (v) chương trình hỗ trợ sản xuất lúa theo Việt GAP và một số thành tựu của mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo.
Xin cám ơn ông!
HUỲNH CÔNG thực hiện (nguồn Báo Nông Nghiệp Việt Nam)




