Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Giống lúa Việt ở châu Phi

LUAGAO - Vào năm 1966 tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines, giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên được phóng thích. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nước ta chủ yếu trồng các giống lúa mùa địa phương truyền thống và giống lúa cao sản nhập nội từ IRRI. Tuy nhiên từ thập niên 80 trở về sau, các nhà khoa học VN đã lai tạo, chọn lọc, tạo ra những giống lúa cao sản phù hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau ở trong nước. Những giống lúa này có mang gen di truyền từ nhiều vùng miền trên thế giới nên khả năng thích ứng rộng. Một số các giống lúa triển vọng này đang hiện diện tại châu Phi. Liberia và Sierra Leone Liberia và Sierra Leone là hai nước láng giềng ở vùng Tây Phi. Phía tây nam hai nước này giáp Đại Tây Dương. Những nước Tây Phi có thuận lợi là lượng mưa cao trong năm. Tại Liberia, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 4.320 mm. Đất ở đây tương tự như miền Đông Nam bộ của VN nhưng do lượng mưa nhiều nên đất xói mòn, tích tụ xuống vùng thấp hình thành những vùng đầm lầy bằng phẳng, có tiềm năng phát triển lúa nước. Ở Liberia cũng có những vùng đồng cỏ savanna có thể giữ nước mùa mưa trong năm trồng một vụ lúa thâm canh. Trên vùng đất phù sa đầm lầy tại Madina thuộc bang Grand Cape Mounth cách thủ độ Monrovia 150 km về hướng Tây Bắc, pH chua, 13 giống lúa đưa từ VN sang đã được trồng nghiên cứu. Những giống triển vọng nhất là OM6976, OM3536, OM8923. Các giống lúa VN trồng tại Liberia kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng nửa tháng so với trồng ở VN. Giống N19 của Trung tâm Lúa gạo châu Phi (African Rice Center) cũng cho kết quả tốt, nhưng dài ngày hơn các giống của VN. Ở tại một điểm khác là trang trại Omega, cách trung tâm thủ đô Monrovia khoảng 30 km, những giống lúa cho kết quả triển vọng nhất là OM4900, OM3536 và OM5199. Trong khi đó Sierra Leone có đất đai, khí hậu thời tiết tương tự như Liberia. 50 giống lúa VN đã mang sang thử nghiệm. Giống lúa cho kết quả tốt nhất là OM2514. 


Nhóm chuyên gia trồng lúa VN ở Châu Phi

Rwanda
Nước Rwanda ở miền Trung châu Phi, nằm trong nội địa không tiếp giáp với biển và còn có tên gọi là đất nước ngàn đồi. Với độ cao trung bình 2.740 m so với mực nước biển. Khí hậu giống như Đà Lạt của VN với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 830 mm/năm. Đất dưới thung lũng có nhiều chất hữu cơ, pH thấp và được sử dụng trồng lúa. Trên 20 giống lúa từ VN được đưa sang, trồng so sánh với các giống châu Phi. Kết quả thí nghiệm trong năm 2003 - 2004 cho thấy giống OM 4498 cho kết quả nổi trội nhất, chống chịu lạnh rất tốt, năng suất cao nhất, không bị lép do lạnh như những giống khác. Sudan Sudan ở miền Đông Bắc châu Phi có phía đông giáp với biển Đỏ. Đất đai ở Sudan còn rất rộng lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp chỉ khoảng 416 mm/năm, nhưng đất nước này có nguồn nước dồi dào từ sông Nile Xanh ở phía đông và sông Nile Trắng ở phía tây. Hợp lưu của hai sông tại thủ đô Khartoum và chảy qua Ai Cập, đổ về biển Địa Trung Hải. Về phía Bắc cách thủ đô Thủ đô Khartoum 300 km trên vùng sa mạc Sahara, lúa cũng được thử nghiệm trên đất phù sa kiềm (pH = 7,5 - 8) dọc sông Nile, xen kẽ với những vườn chà là chắn gió. Tuy nhiên tiềm năng phát triển lúa gạo trên diện rộng ở vùng sa mạc này không cao. Tại đây vào cuối tháng 1/2011, 50 giống lúa từ VN được gieo trồng trong vụ xuân. Cây lúa thấp hơn ở VN khoảng 15 -20 cm nhưng thời gian sinh trưởng kéo dài thêm khoảng 30 - 60 ngày tùy từng giống. Qua khảo sát, các giống có triển vọng là: OM8105, OM6706, OM6916, OM6698, OM10029, OM4900 và OM6014. Vùng có tiềm năng nhất là vùng đất phù sa có tưới thuộc bang sông Nile Trắng và bang Gezara nằm giữa sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Thời vụ tốt nhất để trồng lúa tại vùng này là gieo trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm. Lưu ý sử dụng hóa chất diệt cỏ. Khi lúa trổ trùng khớp với mùa thu hoạch cao lương vào tháng 11-12 thì ít bị chim phá hoại. 54 giống lúa cao sản VN được trồng trong mùa mưa vào tháng 7 năm 2010 trên vùng đất phù sa ven sông Nile trắng có pH là 8,3. Các giống triển vọng nhất kết luận được là OM2514, OM8923, MTL466, AS996 và OM4218. Mozambic Nước Mozambic nằm ở vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Đông Nam châu Phi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng. Mùa mưa trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm, lượng mưa trung bình 590 mm/năm. Nhiệt độ 13-24 độ C trong tháng 7 và 22-31 độ C trong tháng 2. Có 13 giống lúa từ VN được mang sang thí nghiệm và nhân giống từ năm 2010 đến đầu năm 2012, trong đó 3 giống cho kết quả ưu việt nhất là OM2514, OM6979, OM6162 với năng suất biến thiên 7-8 tấn/ha. Điểm đặc biệt nhất ở Mozambic là bên cạnh việc nghiên cứu kết luận các giống lúa VN phù hợp trong vùng, các chuyên gia nước ta còn tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho người dân địa phương và nhân được một số lượng lớn lúa giống phục vụ SX ra trên diện rộng. Tổng sản lượng hạt giống thu được 240 tấn vào đầu năm 2012.

PGS.TS DƯƠNG VĂN CHÍN - NNVN

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Gian nan tiêu thụ lúa gạo cuối năm

LUAGAO - Ngày 5/7, tại TP HCM, Bộ Công thương cùng Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã tổ chức hội nghị sơ kết XK gạo 6 tháng đầu năm và định hướng 6 tháng cuối năm 2012. Mối băn khoăn lớn tại Hội nghị là khả năng xuất khẩu gạo 6 tháng cuối năm và thu mua tạm trữ lúa hè thu ở ĐBSCL.

Lo Thái Lan, Myanmar…

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp đã đăng ký hợp đồng xuất khẩu 5,288 triệu tấn gạo. Trong đó, 3,414 triệu tấn đã được giao cho khách hàng nước ngoài. Như vậy, lượng gạo đã xuất khẩu trong 2 quý vừa qua cao hơn so với dự kiến trước đây tới 300-400 ngàn tấn, nhưng vẫn thấp hơn 500 ngàn tấn so với cùng kỳ 2011.

Đến nay, trong kho của các doanh nghiệp vẫn còn tồn 1,688 triệu tấn gạo. Lượng gạo hàng hóa trong 6 tháng cuối năm vào khoảng 3,2 triệu tấn (2,9 triệu tấn vụ hè thu và 0,3 triệu tấn vụ thu đông). Như vậy, lượng gạo hàng hóa từ nay đến cuối năm là 4,888 triệu tấn. Trên cơ sở đó, VFA đề ra định hướng về lượng gạo sẽ xuất khẩu trong 2 quý còn lại của năm nay là 3,6 triệu tấn, để đạt mức xuất khẩu cả năm trên 7 triệu tấn gạo. Còn 1,286 triệu tấn gạo sẽ được chuyển gối đầu cho xuất khẩu đầu năm 2013.


Sản lượng lúa tăng cao, XK không thuận lợi, giá lúa xuống thấp, nông dân bị thiệt hại

Hiện tại, số hợp đồng đã ký giao hàng từ 1/7 trở đi là 1,874 triệu tấn. Do đó, các doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng xuất khẩu thêm khoảng 1,8 triệu tấn nữa là đạt được mục tiêu định hướng nói trên. Đây là điều không hề dễ dàng, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới sẽ rất gay gắt trong những tháng cuối năm nay. Ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng tất cả các phân khúc gạo đều sẽ có sự cạnh tranh rất khốc liệt. Ở Thái Lan, lượng gạo tồn kho hiện đã lên tới trên 11 triệu tấn và nước này gần như đã hết kho chứa trong khi vụ thu hoạch mới đã gần kề. Vì thế, nếu Thái Lan bất ngờ “xả hàng” trong thời gian tới, việc tiêu thụ gạo Việt Nam sẽ càng trở nên khó khăn hơn nữa. Còn theo ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA, ngoài Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan, Myanmar cũng đang nổi lên rất mạnh và trở thành mối lo ngại lớn nhất của các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam, khi gạo Myanmar có sự tăng mạnh về sản lượng mà giá bán lại rất thấp.

Trước tình hình đó, ông Nguyễn Thành Biên khẳng định trước hết phải làm tốt hơn nữa và giữ thật vững thị trường Trung Quốc vì đây đang là thị trường lớn nhất của hạt gạo Việt Nam, với lượng hợp đồng chính ngạch đã ký là 1,2 triệu tấn và trên 900 ngàn tấn đã được giao. Theo đó, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp (giảm giá bán) hay vì mối lợi trước mắt mà làm mất uy tín gạo Việt Nam (trộn gạo thường vào gạo thơm theo yêu cầu của khách hàng Trung Quốc) phải được chấm dứt ngay. Đồng thời, phải thúc đẩy mạnh việc thâm nhập vào những thị trường đầy tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Theo ông Biên, với thị trường Hàn Quốc, vừa qua đã có tín hiệu vui là 4 doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu xuất khẩu gần 30 ngàn tấn gạo vào nước này. Nhật Bản sau 5 năm ngưng nhập khẩu gạo Việt Nam vì dư lượng hóa chất, cũng đã quay lại mua thăm dò. Ngoài ra, trong 6 tháng cuối năm nay, Bộ Công thương cũng sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo Việt Nam ở các nước Trung Đông và châu Phi…

Tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo

Xét đề nghị của Bộ NN-PTNT và ý kiến của các bộ, ngành liên quan, cùng ý kiến của VFA, ngày 2/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 821/QĐ-TTg về việc tạm trữ tối đa 500 ngàn tấn quy gạo vụ hè thu 2012 ở ĐBSCL. Thời gian mua tạm trữ từ 10/7 đến 10/8/2012. VFA được giao tổ chức phân giao cho các thương nhân mua lúa gạo tạm trữ. Ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay mua lúa, gạo tạm trữ trong thời gian tối đa là 3 tháng (từ 10/7 đến 10/10/2012).

Theo ông Trương Thanh Phong, giá thành lúa hè thu ở nhiều địa phương lên tới trên dưới 4.500 đ/kg cho thấy chi phí sản xuất lúa đã bị đẩy lên quá cao. Với giá thành này, các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”, vì mua giá thấp sẽ không đảm bảo lợi nhuận cho nông dân, còn mua giá cao, doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ nặng nề do giá gạo Việt Nam hiện đã ở mức thấp nhất trên thế giới (chỉ tính những nước xuất khẩu chính).


Ông Nguyễn Thành Biên cho hay, các bộ, ngành và VFA đã cân nhắc kỹ lưỡng và thống nhất rằng chỉ nên mua tạm trữ 500 ngàn tấn quy gạo, bởi nếu mua hơn sẽ gây thêm áp lực cho ngân sách nhà nước. Bởi những lần tạm trữ trước đây với mức 1 triệu tấn quy gạo, lần nào nhà nước cũng phải bù lỗ hàng trăm tỷ đồng cho các doanh nghiệp tạm trữ không lãi suất trong thời hạn 3 tháng.

Mối băn khoăn nhất hiện nay là giá sàn tạm trữ lúa gạo vụ hè thu này sẽ là bao nhiêu? Trong Quyết định nói trên của Thủ tướng Chính phủ, không nói rõ việc này. Trong khi đó, theo văn bản số 8605/BTC-QLG do Bộ Tài chính ban hành ngày 27/6/2012, giá thành sản xuất lúa hè thu ở các tỉnh, TP vùng ĐBSCL rất khác nhau.

Tỉnh có giá thành cao nhất là Tiền Giang lên tới 4.540 đ/kg, cao hơn tới 1.016 đ/kg so với tỉnh có giá thành thấp nhất là Kiên Giang (3.524 đ/kg). Nhiều tỉnh khác cũng có giá thành trên 4.000 đ/kg, như Hậu Giang (4.367 đ/kg), Long An (4.356 đ/kg), Đồng Tháp (4.325 đ/kg), Vĩnh Long (4.137 đ/kg) và Cần Thơ (4.016 đ/kg). Như vậy, nếu lấy giá thành bình quân của cả vùng là 3.993 đ/kg để tính ra giá sàn thu mua đảm bảo cho nông dân lời tối thiểu 30% là 5.200 đ/kg, thì người trồng lúa hè thu ở những tỉnh như Tiền Giang, Hậu Giang, Long An và Đồng Tháp sẽ phải chịu thiệt khá nhiều. Bởi thế, ông Nguyễn Thành Biên cho rằng VFA cùng với các doanh nghiệp và các địa phương phải ngồi lại với nhau để giải quyết sự khác biệt khá lớn về giá thành sản xuất lúa giữa các tỉnh, TP, qua đó, tìm ra được giá sàn thu mua hợp lý nhất.

(Theo Báo NNVN)

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp

LUAGAO - Bắt đầu từ ngày 1/7/2012, ngoài được hỗ trợ sản xuất lúa hàng năm, người sản xuất lúa còn được hỗ trợ sản xuất lúa bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Đây là một trong những nội dung vừa được Chính phủ ban hành Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. 

Cụ thể, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 70% chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khi sản xuất lúa bị thiệt hại trên 70%; mức hỗ trợ là 50% khi sản xuất lúa bị thiệt hại từ 30 - 70%. Đồng thời, ngân sách Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ 70% chi phí khai hoang, cải tạo đất chưa sử dụng thành đất trồng lúa hoặc cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước; mức chi phí do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định. Hỗ trợ 100% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất trồng lúa mới khai hoang. Hỗ trợ 70% giống lúa trong năm đầu để sản xuất trên diện tích đất lúa khác được cải tạo thành đất chuyên trồng lúa nước. Ngoài ra, sẽ ưu tiên hỗ trợ chi phí bảo hiểm sản xuất lúa theo quy định. Nghị định cũng quy định hỗ trợ ngân sách cho địa phương sản xuất lúa. 

Đối với các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương từ 2012 - 2015, ngoài hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành còn được ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương để sản xuất lúa. Cụ thể, hỗ trợ 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước; hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa. 

Nghị định nêu rõ, hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước. Việc chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước phải đáp ứng 3 điều kiện: phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng; có phương án sử dụng đất tiết kiệm tối đa, thể hiện trong thuyết minh tổng thể của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước theo quy định phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng theo quy định. 

Nghị định cũng quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng đất trồng lúa. Theo đó, người sử dụng đất trồng lúa phải sử dụng đúng mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt; sử dụng tiết kiệm, không bỏ đất hoang, không làm ô nhiễm, thoái hóa đất. Nghiêm cấm các hành vi: Gây ô nhiễm, làm thoái hóa, làm biến dạng mặt bằng của đất dẫn đến không trồng lúa được; bỏ hoang đất chuyên trồng lúa nước từ 12 tháng trở lên và đất lúa khác từ 2 năm trở lên không vì lý do thiên tai bất khả kháng./. 

(Theo TTXVN) 

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Nỗi lo trước vụ lúa hè thu 2012


LUAGAO - Vụ lúa HT 2012, ĐBSCL có kế hoạch xuống giống hơn 1,6 triệu ha. Nhiều vấn đề được các địa phương đặc biệt quan tâm là khô hạn, xâm nhập mặn, dịch bệnh và liên kết SX theo cánh đồng mẫu lớn (CĐML).
Trung tâm Khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Tình hình xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào nội đồng. Hiện tại, người dân TP Bến Tre đang sử dụng nước đã nhiễm mặn, sẽ ảnh hưởng lớn đối với SX lúa HT. Trên sông Hậu, độ mặn 4%0 cũng đã xâm nhập sâu cách cửa Trần Đề khoảng 50 km. 
Tại Hậu Giang, mặn đã về sớm hơn cùng kỳ khoảng 10 ngày. Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN- PTNT Hậu Giang cho biết: Độ mặn 3%0 đã về đến các xã tiếp giáp với sông Cái Lớn từ biển Tây đi vào TP Vị Thanh và xã Hỏa Tiến, Vĩnh Viễn thuộc huyện Long Mỹ. Nếu như độ mặn năm nay bằng năm 2009 thì nguy cơ sẽ có khoảng 2.000 ha lúa HT ảnh hưởng nặng. Hiện tại, chính quyền địa phương ở các khu vực có nguy cơ bị mặn xâm nhập đã tiến hành kiểm tra, tu sửa các cống đập thời vụ.
Về lâu dài và căn cơ Hậu Giang đầu tư thi công tuyến đê bao ngăn mặn Vị Thanh- Long Mỹ. Ngoài ra một số dự án ngăn mặn triệt để như đê bao tuyến Vị Thanh- Vịnh Chèo, huyện Vị Thủy; dự án Vị Thủy- Vịnh Chèo, dự án Nam Xà No với tổng chiều dài khoảng 20 km với kinh phí dự kiến gần 300 tỷ đồng; sớm hoàn chỉnh dự án WB6 (Ô Môn- Xà No) giai đoạn 2 với gần 30 cống cấp 2.
Hậu Giang cũng kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng hồ nước ngọt tại xã Vĩnh Tường bằng nguồn vốn ODA với diện tích hồ 100 ha để trữ nước ngọt. Ngoài giải pháp công trình, Hậu Giang phối hợp với Viện Lúa ĐBSCL thực nghiệm giống lúa OM 5464 thích nghi với điều kiện BĐKH. Giống lúa này đang được ngành nông nghiệp nhân ra để phục vụ bà con canh tác trong các vụ tới.
Thực hiện SX theo CĐML trong vụ HT này cũng được nhiều tỉnh đặc biệt quan tâm. Ông Dương Nghĩa Quốc, GĐ Sở NN- PTNT Đồng Tháp cho biết: Chủ trương phát triển CĐML là hướng mở rộng diện tích lúa chất lượng cao. Nhưng muốn bền vững thì DN tham gia ký kết hợp đồng phải mang tính chiến lược lâu dài. Bộ NN- PTNT cần có một cơ chế chính sách trong chiến lược liên kết giữa DN và nông dân thực hiện CĐML.
Liên quan đến vấn đề tiêu thụ lúa trên CĐML, ông Trần Quang Củi, PGĐ Sở NN- PTNT Kiên Giang kiến nghị: Chính phủ chỉ đạo cho DNXK gạo thuộc hệ thống Nhà nước tham gia ký hợp đồng thu mua trên CĐML. Để làm được điều này thì phải có Hiệp hội Lương thực VN tham gia. DN đặt hàng nông dân SX thì chắc chắn chất lượng gạo sẽ rất tốt, XK được giá cao, nông dân có lợi nhiều.
Công tác chỉ đạo xuống giống cần tuân thủ các nguyên tắc chung: Bố trí thời vụ né mặn, hạn ở những vùng có nguy cơ ảnh hưởng cao. Gia cố bờ bao, tu sửa hệ thống kênh mương nội đồng. Phải đảm bảo thời gian giãn vụ, cày ải, phơi đất ngay sau thu hoạch tối thiểu là 20 ngày để cách ly nguồn bệnh nhằm đảm bảo năng suất lúa HT.
Ông Đoàn Ngọc Phả, PGĐ Sở NN- PTNT An Giang nói: Từ năm 2002 đến nay việc SX theo hợp đồng có rất nhiều trở ngại, vì thế từ nay về sau khi thực hiện CĐML có DN tham gia thì phải xác định DN có nhu cầu thực sự, năng lực thật sự. Hiện tại, trên 8.000 ha lúa của An Giang đang SX theo CĐML là DN có nhu cầu. SX theo các tiêu chuẩn Viet GAP và hướng đến Global GAP và được các DN xây dựng thương hiệu riêng.
Riêng về tình hình dịch bệnh trên trà lúa HT cũng được Cục BVTV đặc biệt lưu ý. Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV cho biết: Trà lúa HT sớm ở các tỉnh Long An, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang đã có khá nhiều diện tích nhiễm rầy nâu, tỉ lệ rầy nâu mang mầm bệnh vẫn còn cao, các địa phương cần hết sức cảnh giác.
Hiện tại, đợt rầy tháng 4 đã qua nhưng đến tháng 5 phải cảnh giác vì có đến 2 đợt rầy di trú: Đợt 1 từ 27/4 đến 5/5; Đợt 2 từ 25/5 đến 31/5. Tháng 6 rầy nâu di trú từ 20/6 đến 25/6. Ngoài các đối tượng sâu bệnh gây hại có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nước tưới và xâm nhập mặn.
(Báo NNVN)

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

GS.TS Bùi Chí Bửu: Cánh đồng mẫu lớn- chiến lược lớn


LUAGAO - ĐBSCL bắt đầu thu hoạch rộ lúa ĐX, có nhiều ý kiến khác nhau về giải pháp tạm trữ lúa gạo để đảm bảo việc tiêu thụ, giữ giá lúa của nông dân. NNVN đã có cuộc trao đổi với GS.TS Bùi Chí Bửu, Phó Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp VN, Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam xung quanh vấn đề này. 
Diễn biến thị trường lúa gạo đầu năm 2012 có vẻ như không được thuận lợi cho các nước SX lúa gạo, ông nghĩ sao?
Hiện nay sản lượng lúa toàn cầu 700 triệu tấn/năm, nhưng thị trường lưu thông tiêu thụ rất hẹp, chỉ khoảng 30 triệu tấn gạo, tương ứng khoảng 60 triệu tấn lúa. Còn lại phần lớn là tiêu dùng tại chỗ, vì vậy thị trường tiêu thụ lúa gạo trở nên mỏng manh và nhạy cảm vô cùng. Những nước SX lúa gạo lớn nhất tập trung ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam…
Đâu là giá lúa gạo thật trên thị trường lúa gạo thế giới?
Trên thực tế thị trường lúa gạo thế giới đã có lúc giá ảo. Theo Hiệp hội lương thực thế giới (FAO) muốn đưa giá gạo trung bình về khoảng 300- 400 USD/tấn. Đó là do Liên hợp quốc muốn điều tiết các quốc gia SX lúa gạo mở kho dự trữ để kềm chế giá lúa gạo tăng. Và như đã nói, chính vì thị trường lúa gạo rất mỏng, chỉ lưu thông giao dịch 60/700 triệu tấn lúa.
Nhưng trên thị trường, gạo thơm vẫn giữ được giá, có phải đây là một hướng lựa chọn ?
Nếu chúng ta quay sang chạy theo thị trường gạo thơm, mỗi năm thị trường các nước NK chỉ có 2 triệu/30 triệu tấn gạo lưu thông. Gạo thơm có giá rất cao tựa như đi mua kim cương vậy. Nhưng có mấy người mua “kim cương”? Tôi cho rằng muốn đi theo con đường này gạo VN phải có uy tín, thương hiệu, chứ không phải chúng ta muốn làm bất cứ giá nào. Chúng ta đã thấy gạo thơm như mặt hàng cao cấp. Vài năm qua gạo thơm Thái Lan giá cao nên khách hàng chọn gạo thơm VN. Nếu chúng ta làm mất uy tín thì nguy cơ sẽ mất thị trường.
Trở lại vấn đề thực tại, giao dịch lúa tại ĐBSCL đang hiện lên mối lo lúa IR50404, ý kiến ôngnhư thế nào về vấn đề này ?
Bộ NN- PTNT khuyến cáo lúa IR50404 này dưới 20% diện tích canh tác. Vấn đề này báo chí đã nói rất nhiều. Nếu trồng giống lúa này nhiều khả năng tiêu thụ giá thấp rất cao. Tôi đã cảnh báo từ năm ngoái khả năng Ấn Độ “bung kho” dự trữ.
Vụ lúa ĐX có 1,4 triệu ha, nếu 10% tương đương 140.000 ha, 20% khoảng 280.000 ha. Như thế nếu trồng một giống lúa nào chiếm trên 30% diện tích sẽ rất nguy hiểm. Có lúc giống lúa Jasmine trồng lên tới 350.000- 400.000 ha. Đây là giống lúa cho gạo thơm nhưng rất sợ nhiễm rầy. Với lúa IR50404 có lúc lên tới 40%, gần 600.000 ha.
Tôi cho rằng trên một cánh đồng cần có 1 giống chủ lực nằm xen kẽ những giống khác, nhưng những giống kia chiếm diện tích không nhiều. Trong SX lúa cần 4- 5 giống chủ lực, còn lại giống nhỏ lẻ. Đó là cơ cấu giống cực kỳ hay, vừa đa dạng và sâu bệnh giảm đi. Nếu trồng một loại giống sẽ đơn điệu về mặt di truyền SX, tiếp sau đó quá trình thâm canh, tăng vụ sâu bệnh sẽ “đánh chết”. Trên CĐML với 300- 500 ha trồng cùng một loại giống thì được.
Theo ông, với diễn biến thị trường gạo, các DN kinh doanh XK đã nắm rõ tình hình? Giải pháp căn cơ, chủ động lâu dài là gì?
Tất nhiên các DN hiểu rõ. Chủ trương thực hiện chương trình xây dựng CĐML của Bộ NN- PTNT là để DN liên kết đầu tư. Chiến lược nghiên cứu khoa học sắp tới cũng sẽ hướng thay đổi. Trước đây nghiên cứu phục vụ đối tượng là nông dân. Nhưng khi tiến tới SX hàng hóa lớn, nông dân “tự bơi” sẽ không nổi, vì vậy đối tượng liên kết trong nghiên cứu khoa học sắp tới sẽ là DN. Chỉ có DN mới đủ sức đẩy nông dân đi lên. Đó là hướng phát triển nông nghiệp đi lên theo hướng công nghiệp. Nếu trước kia chuyển giao ứng dụng KHKT xuống tới nông dân thì sắp tới sẽ chuyển giao cho DN thiết tha với phát triển nông nghiệp nước nhà.
CĐML là giải pháp hữu hiệu?
Theo VFA, gạo thơm đặc sản của VN có giá 780- 800 USD/tấn, gạo thơm thường 650-700 USD/tấn. Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu trên 400.000 tấn gạo thơm, cao nhất từ trước đến nay. Năm nay dự kiến đạt khoảng 500.000 tấn.
CĐML tuy thấy đơn giản nhưng là chiến lược lớn. Đất nước ta đang hướng tới trong hơn 12 năm nữa sẽ là một nước công nghiệp, vì vậy SX nông nghiệp phải tạo được đòn bẩy lớn. Trong đó DN đóng vai trò rất lớn trong đầu tư vào nông nghiệp, đẩy nền nông nghiệp đi lên mới khởi sắc được. CĐML là hình thức hợp tác hoàn toàn tự nguyện của nông dân. Cách thực hiện phù hợp với hiện trạng đồng ruộng nước ta. Dù có giới hạn mức hạn điền nhưng vẫn làm được. Nếu DN chịu bỏ vốn đầu tư vào và Nhà nước đã có cơ chế chính sách thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, SX một giống lúa trên một CĐML.
Tôi cho đây là chương trình khéo vận dụng thì gạo VN sẽ có thương hiệu. Quy trình canh tác đảm bảo an toàn, ND an tâm vì SX có đầu ra (giống như gạo Nhật của Cty Kitoku Sinryo (Nhật Bản) có thị trường ổn định). Đó là một bài học về giá thành SX thấp, nhưng năng suất đạt 6 tấn, giá bán ra trên 1 USD/tấn, lãi khoảng 8 cent/kg.
Xin cám ơn GS!
(Theo Báo NNVN)

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

Vị thế mới của gạo Việt

LUAGAO - Theo dự báo, năm 2012 Việt Nam có thể sẽ xuất khẩu được 7,3 triệu tấn gạo - kỷ lục từ trước đến nay. Có được con số này, lúa gạo Việt đã trải qua nhiều khó khăn, giông bão, nhiều câu chuyện chưa từng được kể.


Một thời gian khó
Năm 2011 này, lần đầu tiên Việt Nam đạt vượt qua ngưỡng 40 triệu tấn lúa với tổng sản lượng cả nước đạt tới hơn 41,5 triệu tấn với năng suất bình quân đã vượt mốc 6,1 tấn/ha. Nhưng để đạt được kỳ tích như ngày hôm nay, hạt gạo Việt Nam đã có thời bị thiếu hụt trầm trọng, hàng năm phải đi nhập khẩu một lượng lớn để bù đắp cho sự thiếu đói.
Vị thế mới của gạo Việt, Thị trường - Tiêu dùng, xuat khau gao, thi truong gao, lua gao, bao, tin hya, tin hot, tin tuc
Nhớ lại những thời kỳ đó, ông Nguyễn Công Tạn -nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nói: “Năm 1980, sản lượng lúa nước ta mới đạt 11,65 triệu tấn, sau khi thực hiện Chỉ thị 100 đến năm 1988 vươn lên được 17 triệu tấn, nhưng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và đây chính là thời điểm cao độ của khủng hoảng, lúc đấy đất nước ta có hàng triệu người thiếu ăn và phải nhập hàng triệu tấn gạo và bột mỳ”.
Các cột mốc trong 22 năm xuất khẩu gạo của Việt Nam: Nếu năm 1989, Việt Nam mới xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, thì 6 năm sau đó đến năm 1995 đã đạt số lượng 2,05 triệu tấn. Ngay sau đó 1 năm (1996) đã tăng vọt lên 3,06 triệu tấn, đến năm 1999, xuất khẩu gạo đạt cột mốc mới với 4,56 triệu tấn. Nhưng kể từ sau năm 2000, số lượng xuất khẩu lại bị tụt xuống ở mốc 3,35 triệu tấn và đến năm 2005 mới thiết lập được mốc mới là 5,2 triệu tấn. Tới năm 2009 đạt cột mốc 6 triệu tấn, năm 2010 đạt 6,8 triệu tấn và năm 2011 đạt 7,2 triệu tấn.
“Năm 1987, khi tôi làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, nước ta vẫn đói, chúng ta thiếu tới 1 triệu tấn gạo, nhưng chỉ nhập được có 440.000 tấn. Lúc đó, tôi đã kiến nghị với đồng chí Phạm Hùng, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phải nhập thêm, nhưng đồng chí nói, ngoại tệ và vàng trong nước đã hết rồi, nên có đề nghị nhập cũng chịu” - ông Tạn nhớ lại.
Thế rồi, luồng gió mới từ Nghị quyết 10 đã đến và giải phóng cho toàn bộ nền nông nghiệp nước ta, biến một nước từ chỗ phải lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu gạo liên tục trong 22 năm vừa qua.
Ông Tạn tâm sự: “Ngay năm 1989, sản lượng lúa cả nước đã đạt 18,99 triệu tấn, đến 1990 đạt 19,22 triệu tấn, rồi 19,43 triệu tấn vào năm 1991 và cứ thế suốt từ 1988 đến nay, sản lượng lúa chỉ có tăng và lên. Đặc biệt, cũng từ 1989, chúng ta đã xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo, từ bấy đến nay chỉ toàn xuất khẩu tới ngưỡng 7,2 triệu tấn như năm nay”. Theo ông Tạn, để có được thành công đó là do Đảng, Nhà nước đã thay đổi chính sách về nông nghiệp, nhất là chúng ta đã luật hóa được toàn bộ tư liệu sản xuất đối với nông dân bằng Luật Đất đai năm 1993.
Có lúc đi xin... xuất khẩu
Hiện nay, hạt gạo Việt Nam đã vươn đi gần như khắp thế giới. Nhưng để có được thành công và những thuận lợi đó, những người làm công tác xuất khẩu gạo đã trải qua những thời kỳ vô cùng gian khó.
Là người điều hành xuất khẩu gạo ngay từ những ngày đầu, hạt gạo Việt Nam vươn ra khỏi bản đồ hình chữ S, ông Nguyễn Đăng Chi - nguyên Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhớ lại: “Khi chúng ta mới tham gia xuất khẩu gạo, trên thị trường thế giới cung vẫn còn lớn hơn cầu, nước xuất nhiều hơn nước nhập, nên dạo đó, có những hợp đồng khi tổ chức đấu thầu, chúng tôi đã phải đi “lobby” cả đến cấp Chính phủ nước đó. Thậm chí, có thời điểm xuất khẩu khó khăn quá, chúng tôi đã phải thảo cả thư cho Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ký gửi cho Tổng thống Philippines chiếu cố nhập khẩu gạo cho chúng ta”.
Vị thế mới của gạo Việt, Thị trường - Tiêu dùng, xuat khau gao, thi truong gao, lua gao, bao, tin hya, tin hot, tin tuc
Năm 2011, lần đầu tiên Việt Nam đã xuất khẩu được 7 triệu tấn gạo
Đánh giá của các chuyên gia cho thấy, triển vọng xuất khẩu gạo năm 2012 của Việt Nam nhìn chung vẫn khá sáng sủa do yếu tố lũ lụt ở Thái Lan, cộng với chính sách quy định về thu mua gạo ở giá sàn khá cao của nước này, tạo cơ hội cho Việt Nam có thể san bằng, thậm chí vượt Thái Lan về số lượng xuất khẩu gạo ở vị trí “quán quân”.
Theo ông Chi: “Trong trước mắt và có lẽ cả lâu dài, xuất khẩu gạo nhìn chung thuận lợi nhiều hơn do chúng ta có được cơ hội do đất đai ngày càng thu hẹp, dân số thế giới lại tăng, nguy cơ đói của thế giới vẫn còn. Cộng với kinh nghiệm nhiều năm trong xuất khẩu với nhiều thị trường, bạn hàng lâu năm, chúng ta sẽ vẫn rất thuận lợi về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, vai trò điều hành, nhất là của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) phải được xây dựng lại mạnh hơn, đặc biệt giữa các doanh nghiệp phải đoàn kết, bảo được nhau. Như thế, xuất khẩu mới đem lại hiệu quả”.
“Vương miện” phải dành cho nông dân
Có một thực tế hiện nay, mặc dù riêng ngành lúa gạo xuất khẩu đã đem lại giá trị tới 3,5 tỷ USD/năm về cho nước ta, nhưng thực tế, từ sau năm 1975 đến nay những người trồng lúa vẫn là những người nghèo nhất.
TS Lê Hưng Quốc - nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho rằng: “Thực tế, cái vị trí số 1 hay số 2 chẳng có gì vinh dự, mà điều quan trọng là người nông dân được hưởng bao nhiêu phần trăm lợi nhuận trong những con số xuất khẩu đó. Cho nên, theo tôi chiếc “vương miện” số 1 đó phải được dành cho những người nông dân trực tiếp làm ra từng hạt gạo”. Cũng theo ông Quốc, trên thế giới đã có nhiều nước, thậm chí người ta còn điều chỉnh vị trí xuất khẩu của mình từ số 1 xuống số 2, từ số 2 xuống số 3… để đem lại hiệu quả cho người sản xuất.
Cùng chung tư tưởng với ông Quốc, ông Nguyễn Đăng Chi nhận định, vươn lên số 1, số 2 về số lượng không khó nếu các nước thi nhau xuất khẩu giá thấp. Ông nói: “Chúng ta cần tập trung vào nâng cao hiệu quả xuất khẩu, đảm bảo cho nông dân có lợi trong từng cân lúa bán ra với mức lãi 30% thậm chí có thể 50% và cao hơn nữa”.
Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát: Cây lúa là thế mạnh của nước ta
Nói về định hướng cho ngành sản xuất lúa gạo, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cho biết: “Trên thực tế, một mặt chúng ta phát triển sản xuất lúa gạo để đảm bảo nhu cầu trong nước, nhưng mặt khác chính cây lúa là lợi thế của nước Việt Nam. Cây lúa đem lại lợi ích cho nước Việt Nam và cho những người nông dân trồng lúa. Không dễ gì tìm được cây khác có hiệu quả hơn trên những vùng đất trồng lúa truyền thống của chúng ta. Đây là sự sàng lọc của lịch sử”.
Theo ông Phát, ĐBSCL của nước ta là một trong những vùng trồng lúa nước tốt nhất trên thế giới và không phải ngẫu nhiên mà nước ta trở thành nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 tuy với diện tích đất rất nhỏ hẹp. Vì cây lúa có lợi thế và nhìn lại quá trình hơn 20 năm vừa qua khi chúng ta đổi mới, có thể thấy nền nông nghiệp của chúng ta chỉ có thể phát triển được khi chúng ta tập trung vào phát huy những gì là thế mạnh của chúng ta.
Cây lúa là một trong những thế mạnh của nền nông nghiệp và của cả nước. Do đó, chúng ta nên tiếp tục phát huy và nên gìn giữ mảnh đất màu mỡ ấy cho muôn đời sau. Không phải hôm nay chúng ta xuất khẩu nhiều gạo là để làm an ninh lương thực cho thế giới, mà chúng ta làm ra hạt gạo trước hết là vì chúng ta, vì đất nước chúng ta”.
Ngọc Lê (ghi)
Theo: 24h

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

GIÁ TRỊ MANG LẠI TỪ GẠO THAN

LUAGAO – Giới thiệu về gạo than, thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.


Tiến sĩ Lê Hữu Hải, người âm thầm nghiên cứu gạo than từ năm 2005 đến đã phát hiện hàm lượng anthocyanin của gạo than Cai Lậy, Tiền Giang lên tới 600 mg/kg.
“Anthocyanin có trong gạo than tới 60,4 mg/100g, cao hơn 94,47% so với gạo trắng. Đây là hợp chất có nhiều hoạt tính sinh học quí như: khả năng chống oxy hóa cao nên được sử dụng để chống lão hóa; chống oxy hóa các sản phẩm thực phẩm; hạn chế sự suy giảm sức đề kháng; có tác dụng làm bền thành mạch, chống viêm, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư”, TS Hải giải thích.
Một nghiên cứu khác của phòng thí nghiệm chuyên sâu thuộc trường Đại học Cần Thơ và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM khẳng định: 1 kilogam gạo than chứa đến 26,4 mg chất sắt, cao hơn 450% so với gạo trắng (4,8 mg/kg), chỉ thấp hơn thịt bò 13,6% (30 mg/kg).
Vi chất sắt trong gạo than cần thiết trong việc duy trì sự khoẻ mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin, 2 tế bào protein máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đến các mô và cơ trong cơ thể. Các nhà khoa học còn phát hiện quan hệ giữa kẽm và tuyến tiền liệt rất mật thiết.
Ngoài ra, trong gạo than còn chứa nhiều khoáng chất khác như amylose, canxi, lysine… có hàm lượng cao hơn gạo trắng bình thường.
Gạo than chứa Anthocyanin, xay lứt ngâm trong 20 giờ, nấu chín… người Nhật ăn theo phương pháp thực dưỡng còn gọi đó là cơm gạo mầm, tác dụng chống các tia phóng xạ.
Từ nguồn giống của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), chạy điện di protein SDS – PAGE tại bộ môn Di truyền chọn giống, trường Đại học Cần Thơ, trồng khảo nghiệm nhiều vụ ngoài đồng ruộng tại Cai Lậy, tiến sĩ Hải đã tuyển chọn được 2 dòng lúa than thích nghi tốt với điều kiện sản xuất thâm canh, thời gian sinh trưởng chỉ 75 – 80 ngày, không cảm ứng quang kỳ như các giống lúa mùa nên có thể thâm canh 3 vụ/năm.

Tiến sĩ Võ Công Thành, bộ môn Di truyền chọn giống, cho biết giống lúa than “Huyền Ngọc”, được chọn tạo từ tổ hợp lai từ loại lúa Khẩu Lệch (Huế) và giống BN, kết quả kiểm nghiệm của phòng thí nghiệm chuyên sâu trường đại học Cần Thơ cho thấy hàm lượng Fe tới 54,9 mg/kg và anthocyanin lên đến 1432 mg/kg, cao hơn lúa than Cai Lậy. Tiến sĩ Thành nói rằng ông cố gắng làm cho giống lúa có tính kháng sâu bệnh, chịu hạn hoặc mặn trên 5‰.
Tại Sóc Trăng, kĩ sư Hồ Quang Cua, âm thầm nghiên cứu tổ hợp lai, cũng bất ngờ trước những kết quả vi chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, theo ông, cần tiếp tục nghiên cứu. Thầm lặng và ngẫu nhiên, 3 điểm nghiên cứu lúa than vô tình chạy vào đường đua.
Tiến sĩ Hải cho biết ông đã làm hồ sơ đăng ký “Gạo Lá cẩm Cai Lậy” và HTX Mỹ Thành, Cai Lậy, Tiền Giang đã trồng 39 ha lúa than theo tiêu chuẩn GlobalGAP trong vụ hè thu sớm 2011.
Công ty TNHH ADC đặt hàng toàn bộ lúa than với giá tương ứng 1 kg “lúa cẩm Cai Lậy“ = 1,6kg lúa hột dài. Công ty này sẽ giúp HTX mở rộng diện tích và kết hợp với ngành dược phẩm tạo ra cuộc đời thứ hai của gạo than với dòng sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao, dùng như thực phẩm chức năng.
Với năng suất bình quân 5-6 tấn/ha, các nhóm tác nhân: chế biến, đóng gói, kinh doanh siêu thị đang tìm cách săn đón gạo than. Một số công ty xuất khẩu cũng muốn tham gia chuỗi giá trị bằng cách đẩy giá lên cao để mua hàng mà không cần đầu tư vùng nguyên liệu. Nhưng những cơ hội thương lượng với người sản xuất cá thể ở Tiền Giang, Sóc Trăng rất mong manh vì nguồn giống vốn rất giới hạn và việc kiểm soát dự án tại gốc hết sức chặt chẽ.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Vui Tết không quên ruộng đồng: Đề phòng dịch hại lúa ĐX

LUAGAO - Cho đến tuần đầu tháng 1/2012, ĐBSCL vẫn còn một vài địa phương chưa gieo sạ xong vụ lúa ĐX. Phần lớn diện tích đất lúa chậm trễ gieo sạ thuộc vùng chân ruộng sâu, hạ tầng thủy lợi không đảm bảo chủ động bơm tát.

Theo dự đoán ban đầu của Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng, ảnh hưởng lũ năm 2011 khá lớn, nước rút chậm và tác động triều cường biển Đông nên lúa vụ ĐX xuống giống trễ hơn lịch thời vụ. Tại Cần Thơ, đến cuối tháng 12/2011, nông dân mới gieo sạ khoảng 88.000 ha. Đợt gieo sạ sớm tại vùng thủy lợi chủ động nguồn nước, đến nay lúa đã gần 2 tháng tuổi. Ước có khoảng 60.000 ha lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh và khoảng 2.000 ha làm đòng.

Để đề phòng dịch bệnh hại lúa xảy ra ngày giáp tết, Sở NN-PTNT Cần Thơ triển khai phân công cán bộ nông nghiệp, trạm BVTV các quận huyện trực, theo dõi tình hình sâu bệnh và khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng.

TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: Theo kế hoạch vụ lúa ĐX, ĐBSCL trồng 1.550.000 ha, đến ngày 10/1/2012 tiến độ xuống giống đạt hơn 95%, còn hơn 60.000 ha vẫn tiếp tục xuống giống. Các địa phương khuyến cáo lịch xuống giống lúa ĐX sớm bắt đầu từ đầu tháng 10/2011, vào tháng 11 tập trung gieo sạ cao điểm đồng loạt và đến đầu tháng 12 kết thúc.

Tuy nhiên vụ lúa ĐX năm nay nước lũ rút chậm, nhiều vùng nội đồng nước còn ngập sâu, đến tháng 11/2011 tiến độ xuống giống chỉ đạt 50%, phần diện tích còn lại gieo sạ trong tháng 12/2011 và dự tính trễ lắm đến đầu tháng 1/2012 xuống giống dứt điểm.

Việc xuống giống chậm trễ khiến ngành nông nghiệp các tỉnh lo lắng. Nông dân canh tác ở những vùng lúa xuống giống chậm có thể phải đối phó với hạn, mặn xâm nhập giai đoạn cuối vụ; ảnh hưởng tới bố trí lịch thời vụ cho vụ HT, lúa vụ 3 trong năm.

Thế nhưng mùa lũ cũng đem lại lợi ích cho vùng đất lúa hai bên sông Tiền, sông Hậu. Lũ mang phù sa màu mỡ tưới tắm đồng ruộng nên lúa phát triển tốt. Ngành nông nghiệp một số địa phương khuyến cáo nông dân sử dụng hạn chế các loại phân đạm, chỉ bón ở mức hợp lý và không nên lạm dụng chất kích thích, phân bón lá.

Thời tiết những ngày cận tết se lạnh, một số nơi có sương sớm buổi sáng dễ gây bệnh đạo ôn, cháy bìa lá. Hiện nay bệnh đạo ôn lá xuất hiện ở hầu hết các tỉnh trong vùng với diện tích nhiễm là 22.720 ha, giảm 14.752 ha so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao trên 20%. Các tỉnh xuất hiện bệnh đạo ôn lá phổ biến như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Long An, Bạc Liêu…

Về bệnh đạo ôn cổ bông, có 8.653 ha nhiễm bệnh, giảm 748 ha so cùng kỳ năm trước, tỷ lệ nhiễm bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao tỷ lệ trên 20%. Bệnh này xuất hiện ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh…

Bệnh ốc bươu vàng tưởng chừng sau lũ lớn về sẽ sinh sôi nhiều, nhưng đến nay chỉ có 20.665 ha nhiễm ốc bươu vàng, giảm 14.257 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật số phổ biến 2-4 con/m2, nơi cao trên 6 con/m2 (500 ha). Ốc bươu vàng xuất hiện và gây hại phổ biến ở các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hậu Giang… Bên cạnh đó, bệnh sâu cuốn lá nhỏ có 11.650 ha bị nhiễm, giảm 7.082 so với cùng kỳ năm trước, mật số phổ biến từ 10-20 con/m2, nơi cao trên 40 con/m2 (100 ha).

Các tỉnh xuất hiện sâu cuốn lá nhỏ là Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu… Ngoài ra, một số đối tượng dich hại khác như bệnh bạc lá (9.126 ha), bệnh đốm vằn (6.458 ha), bệnh lem lép hạt (5.354 ha), chuột (4.660 ha), sâu đục thân (2.687 ha).

Ông Trần Ngọc Thể, Phó Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hậu Giang cho biết: Tổng diện tích lúa ĐX bị nhiễm các loại dịch hại trên 8.700 ha, tăng 3.394 ha. Trong đó 4.325 ha nhiễm rầy nâu, 2.479 ha nhiễm bệnh đạo ôn, 1.169 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại và một số sâu bệnh khác.

Dự báo trước Tết Nguyên đán còn một đợt rầy nở, do đó bà con nông dân cần cảnh giác, đề phòng sâu rầy tấn công trên diện rộng. Mặt khác, thời tiết se lạnh là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh và gây hại trà lúa ở giai đoạn đẻ nhánh. Vì vậy khi phát hiện trên đồng ruộng có vết chấm kim, bà con nên sử dụng các loại thuốc đặc trị đạo ôn để phòng trừ. Ngoài ra, trà lúa ĐX đã xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên giống lúa IR 50404 làm 43 ha nhiễm bệnh.

Ở Vĩnh Long rầy nâu đã xuất hiện nhưng mật độ còn trong vòng kiểm soát, trong khi đó bệnh đạo ôn đang có chiều hướng tăng. Hiện tại, đã có trên 1.044 ha lúa ở giai đoạn đẻ nhánh, đòng trỗ tại các huyện Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn và Vũng Liêm bi bệnh đạo ôn với tỷ lệ từ 6-14%. Bệnh đang tiếp tục phát sinh và gây hại trên trà lúa gieo trồng giống nhiễm, sạ dầy, bón thừa phân đạm.

Chi cục BVTV Vĩnh Long khuyến cáo nông dân bám sát đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh để phòng trị kịp thời. Khi bệnh chớm xuất hiện có thể sử dụng một trong các loại thuốc đặc trị phun xịt theo “4 đúng”. Bệnh đạo ôn trên bông có thể phòng ngừa bằng cách xử lý thuốc đặc trị trước và sau trổ 7 ngày. Mặt khác cần bón phân cân đối giúp cây lúa khỏe, tăng cường bón phân kali cho lúa cứng cây, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất lợi của thời tiết. Hạn chế tối đa việc phun các loại thuốc gốc lân hữu cơ phổ rộng hoặc thuốc có gốc cúc tổng hợp trừ sâu ăn lá, để bảo tồn thiên địch. Tùy theo sự xuất hiện và gây hại của từng đối tượng mà có biện pháp xử lý phù hợp. Các trạm BVTV phải theo dõi tình hình dịch bệnh và báo cáo trước 14 giờ hàng ngày về Chi cục, Sở NN- PTNT, Trung tâm BVTV phía Nam và Cục BVTV, Cục Trồng trọt.

Cục BVTV cảnh báo hiện nay trong toàn vùng ĐBSCL có 41.881 ha lúa bị nhiễm rầy, tăng 10.094 ha so với cùng kỳ năm trước, với mật độ trung bình 1.000-2.000 con/m2, nơi cao trên 3.000-6.000/m2 (khoảng 4.899 ha). Rầy nâu xuất hiện tập trung ở Bạc Liêu, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long. Bệnh VL, LXL trong vùng cao điểm có 48,5 ha bị nhiễm, tăng 48,5 ha so với cùng kỳ, chủ yếu ở Hậu Giang, Đồng Tháp.

Tại Đồng Tháp, rầy nâu đã xuất hiện và gây hại 707,5 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, đòng trổ và hiện đã có 15 ha nhiễm nặng, mật độ 3.000- 5.000 con/m2; 114 ha nhiễn trung bình, mật độ 1.500 - 3.000 con/m2, còn lại nhiễm nhẹ. Ngoài ra, bệnh đạo ôn trên lá đã gây hại 3.425 ha lúa giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng; trong đó có 10 ha nhiễm trung bình. Bệnh VL-LXL đã xuất hiện và gây hại rải rác. Ngành nông nghiệp tỉnh này khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu cho lúa dưới 40 ngày sau sạ nhằm hạn chế ảnh hưởng thiên địch, tránh bộc phát dịch hại ở giai đoạn sau.

Ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang cho biết: Trong những ngày nghỉ tết bệnh đạo ôn có khả năng phát triển và giống IR 50504 là dễ nhiễm nhất. Chính vì vậy đối với những trá lúa trên những cánh đồng xả lũ cần bón phân cân đối, tránh để dư đạm. Vụ ĐX 2011- 2012 xuống giống trễ hơn 15- 20 ngày so với cùng kỳ năm trước nên trà lúa làm đòng và trổ rơi vào những ngày tết.

Hiện nay, bên cạnh công tác phòng chống dịch hại, Sở NN-PTNT các tỉnh trong vùng cho biết đang chuẩn bị khắc phục hiện tượng thiếu nước, xâm nhập mặn cuối vụ ĐX 2011-2012 và đầu vụ HT sớm 2012 ở các huyện thuộc vùng ven biển; đồng thời khuyến cáo nông dân thăm đồng thường xuyên phát hiện và quản lý kịp thời các đối tượng rầy phấn trắng, nhện gié, muỗi gây lá hành, đạo ôn cổ bông. Với diễn biến thời tiết khá thuận lợi và hoạt động kiểm soát phòng chống dịch hại tốt, kỳ vọng vụ lúa ĐX tiếp tục thắng lợi lớn.

Ông Phạm Văn Quỳnh (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Cần Thơ: Không chủ quan, lơ là

Đến thời điểm này diện tích xuống giống vụ lúa ĐX ở Cần Thơ là 88.000 ha, đạt 100% kế hoạch. Mặc dù năm nay đất được tăng lượng phù sa do lũ lớn, giúp lúa phát triển nhanh, tốt nhưng cũng rất dễ tạo cơ hội cho sâu bệnh và rầy nâu tấn công trong những ngày tết.

Ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con nông dân, trong những ngày vui xuân đón tết không nên lơ là thăm đồng ruộng để đảm bảo thắng lợi vụ lúa ĐX. Qua tết, Cần Thơ sẽ thu hoạch khoảng 1.000 ha lúa ĐX sớm. Hiện nay, giá lúa trên 5.000 đ/kg, đảm bảo nông dân có thể lãi trên 30%. Hy vọng đầu năm mới Nhâm Thìn giá lúa tăng cao hơn.

Ông Đoàn Chí Vững, PGĐ Sở NN-PTNT Đồng Tháp: Phòng ngừa là chính

Vụ lúa ĐX năm nay lịch xuống giống có trễ hơn so với các năm, nhưng đến thời điểm này tỉnh Đồng Tháp đã xuống giống hoàn tất (trên 207.500 ha). Đồng Tháp là tỉnh đầu nguồn nên bị thiệt hại nhiều do lũ nhưng bù lại lũ cũng giúp bà con nông dân giảm được chi phí phân bón rất lớn trong vụ ĐX này.

Năm nay lịch nghỉ tết khá dài so với mọi năm. Chúng tôi luôn khuyến cáo bà con nông dân không được chủ quan trong những ngày tết. Trong chăm sóc lúa phải giảm bón phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ dẫn đến cây đổ ngã, năng suất kém. Thông thường hàng năm vụ lúa ĐX có đợt rầy nâu bùng phát, nếu không kịp thời phát hiện ngăn chặn sẽ dễ bị cháy rầy. Chính vì vậy biện pháp phòng ngừa được đặt lên hàng đầu.

Ông Nguyễn Văn Đồng (ảnh), GĐ Sở NN-PTNT Hậu Giang: Coi chừng rầy nâu

Đến thời điểm này nông dân Hậu Giang đã hoàn thành việc xuống giống 77.000 ha lúa ĐX theo kế hoạch. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số diện tích nhỏ lẻ, điều kiện khó khăn không thể xuống giống tập trung theo lịch thời vụ, nông dân đang tiếp tục gieo sạ, nhiều khả năng diện tích lúa ĐX 2011-2012 của tỉnh sẽ đạt 80.000 ha. Nhìn chung, trà lúa gieo sạ tâp trung trong tháng 11 và 12 hiện đang phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, bà con đang tích cực chăm bón để ra giêng sẽ có vụ mùa bội thu.

Về tình hình dịch bệnh trên lúa, tới thời điểm này đã phát hiện 43 ha lúa bị bệnh VL-LXL, chủ yếu ở giống IR 50404, với mức độ gây hại từ 5-10%, tập trung ở TP Vị Thanh. Ngành đã hướng dẫn bà con cách xử lý để tránh lây lan. Toàn tỉnh hiện có trên 4.000 ha lúa bị nhiễm rầy với mật độ trung bình. Năm nay thời gian nghỉ tết dài nên ngành khuyến cáo bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng, để kịp thời phát hiện và phun thuốc phòng trừ. Riêng đối với các ngành chuyên môn như BVTV, Thú y… chúng tôi chỉ đạo phải phân công người túc trực 24/24 để nắm bắt tình hình dịch hại trên địa bàn, khuyến cáo, hướng dẫn bà con cách xử lý khi có dịch bệnh xảy ra.

Ông Trần Quang Giàu, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Kiên Giang: Dịch bệnh rất dễ xảy ra

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, trong dịp Tết Nguyên đán sẽ có đợt thời tiết lạnh kéo dài, đây sẽ là cơ hội tốt để một số dịch bệnh trên lúa bùng phát mạnh như: đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông. Trong khi đó, tết năm nay thời gian nghỉ dài, nông dân thường ít đi thăm đồng vào những ngày này nên nguy cơ dịch bệnh rất dễ xảy ra.

Vì vậy, ngành khuyến cáo nông dân phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm dịch bệnh và phòng trị kịp thời. Nếu ruộng lúa đã nhiễm hai loại bệnh nói trên thì phải ngưng ngay việc bón phân đạm, bơm nước trên ruộng đầy đủ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa và chọn các loại thuốc đặc trị để phun xịt. Đối với các giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông cần chủ động phun thuốc vào giai đoạn trước và sau khi trổ để phòng ngừa. Trong suốt thời gian nghỉ tết, Chi cục sẽ phân công cán bộ theo dõi, điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ để kịp thời xử lý.

Đ.T.Chánh - L.H.Vũ

Theo: Báo NNVN

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Thị trường phân bón: Vẫn lo chuyện giá tăng, hàng giả

LUAGAO - Nguồn cung trong nước tăng lên trong khi điều kiện sản xuất thuận lợi và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt đang có xu hướng tiết giảm dần sử dụng phân bón, khiến thị trường này được dự báo sẽ cạnh tranh quyết liệt hơn trong thời gian tới.
Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, (Bộ NNPTNT) tổng lượng sản xuất phân bón sản xuất và nhập khẩu năm 2011 đạt khoảng 9,28 triệu tấn các loại, đáp ứng cơ bản nhu cầu cả nước.
Trong đó, lượng phân sản xuất trong nước đạt hơn 5,6 triệu tấn, tăng gần 6% so với năm 2010. Dự báo, sang năm 2012, cả nước cần khoảng 9,88 triệu tấn phân các loại, trong đó urê chiếm khoảng 2 triệu tấn, đạm SA khoảng 710.000 tấn, kali 920.000 tấn và DAP khoảng 950.000 tấn. Khả năng sản xuất trong nước, theo dự báo của Bộ Công Thương ở mức 7,25 triệu tấn với các loại như urê, DAP và NPK, còn lại vẫn phải nhập khẩu.
Cá c doanh nghiệp đang tích cực sản xuất để cung cấp phân bón cho sản xuất vụ đông xuân.
Vẫn lo hàng kém chất lượng
Riêng vụ đông xuân tới, cả nước cần 970.000 tấn. Tuy nhiên, theo lãnh đạo Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền, ngành nông nghiệp trong nước hiện có một số ưu điểm khiến nhu cầu phân bón vụ tới không cao như dự báo. Theo đó, lũ lụt ở ĐBSCL thời gian qua giúp nông dân giảm một lượng phân bón đáng kể do có phù sa bồi đắp.
Ngoài ra, diện tích vụ đông ở miền Bắc giảm kéo theo nhu cầu phân bón cũng giảm theo. "Dù nhu cầu không tăng nhưng khi ĐBSCL vào vụ tập trung thì lượng phân bón cần đáp ứng là rất lớn. Lúc đó giá phân bón trong nước cũng sẽ tăng đồng thời sẽ xảy ra tình trạng thiếu cục bộ do phân bón không đưa về kịp, nhất là vùng sâu, vùng xa" - ông Lê Quốc Phong - Tổng Giám đốc Công ty Phân bón Bình Điền cho biết.
Tình trạng hàng giả, kém chất lượng trong năm qua mặc dù đã giảm nhiều những vẫn là vấn đề “đau đầu” của ngành phân bón. Năm 2011, quản lý thị trường đã xử lý khoảng 300 vụ vi phạm, chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm ăn bất chính. "Lợi dụng những thời điểm nhu cầu phân bón tăng cao, phân bón giả được mang về vùng sâu vùng xa tiêu thụ. Khi bị phát hiện, doanh nghiệp cũng chỉ mới bị xử lý hành chính nên sức răn đe chưa cao" - TS Võ Văn Quyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý thị trường cho biết.
Tính toán lại giá thành
Cả nước hiện có khoảng 300 doanh nghiệp tham gia sản xuất phân bón. Sản xuất nhìn chung trên đà tăng trưởng, từ năm 2000 đến nay, tăng từ 42 - 50% sản lượng. Tuy nhiên, giá phân bón vẫn còn nhiều bất cập. Theo đó, tính đến cuối tháng 9.2011, giá phân bón các loại tăng bình quân 31,8%. Tỷ lệ tăng cao nhất là SA với 48,8%, kali tăng thấp nhất cũng đạt mức 19,5%.
Bộ NNPTNT khuyến khích nông dân sử dụng các loại phân bón có chứa các chất tăng hiệu suất như: NEB - 26, Agrotain và tăng cường sử dụng phân tổng hợp NPK, phân hữu cơ, vi sinh... để giảm chi phí sản xuất.
Ông Trương Hợp Tác 
Trưởng phòng Phân bón, 
Cục Nông nghiệp VN
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Thỏa - Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), giá thành sản xuất phân bón trong nước rẻ hơn rất nhiều so với giá thành phân bón nhập khẩu vì doanh nghiệp chưa tính đúng, tính đủ theo nguyên tắc thị trường trong hoạt động sản xuất phân bón. "Nếu tính đủ theo nguyên tắc thì trong thời gian tới, giá than cục 2b bán cho sản xuất phân lân phải tăng 82% và giá than cục 1b cho sản xuất phân đạm phải tăng 54% so với giá đang bán hiện tại, việc này sẽ đẩy giá thành sản xuất phân bón tăng lên rất nhiều" - ông Thỏa cho biết thêm.
Theo tính toán của ông Thỏa, nếu tính đủ các yếu tố chi phí, giá đạm urê sử dụng than để sản xuất tăng hơn 24% (từ 7,86 lên gần 9,77 triệu đồng/tấn), giá đạm urê sử dụng khí để sản xuất tăng 22,3%, lên mức 5,32 triệu/tấn và giá phân lân tăng 20% lên 2,86 triệu đồng/tấn.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

ĐBSCL: Phát triển cánh đồng mẫu lớn: Nông dân giảm chi, bội thu

LUAGAO - Việc mở rộng cánh đồng mẫu lớn là xu hướng sản xuất lúa tất yếu trong thời gian tới, cần tiếp tục mở rộng, không phải đắn đo.

Đây là khẳng định của Thứ trưởng Bộ NNPTNT Bùi Bá Bổng tại Hội nghị Tổng kết lúa thu đông 2011 và phát triển cánh đồng mẫu lớn 2012 (CĐML) do Cục Trồng trọt vừa tổ chức.
Lợi nhuận tăng cao
Với tổng diện tích hơn 7.800ha cùng sự tham gia của 6.400 hộ nông dân trong lần thí điểm đầu tiên, CĐML được đánh giá là một cải tiến rất lớn của ngành nông nghiệp.
Thu hoạch lúa trên cánh đồng mẫu lớn ở Long An.
Theo Cục Trồng trọt, mục tiêu của mô hình CĐML nhằm thực hiện tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến một cách đồng bộ, hiệu quả trên một diện tích lớn, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về năng suất giữa các hộ nông dân, các thửa ruộng, các vùng sản xuất. Qua đó, nâng cao năng suất bình quân toàn vùng, gia tăng chất lượng lúa và làm nền tảng cho việc sản xuất lúa theo VietGAP.
Ông Phạm Văn Dư - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết: "Do diện tích canh tác bình quân của từng hộ nông dân ta rất nhỏ, chỉ khoảng 1,08 ha/hộ trong khi việc sản xuất lúa ngày càng hiện đại, những cánh đồng lớn, những vùng nguyên liệu đủ sức cung ứng cho chế biến, xuất khẩu từ vài ngàn đến vài chục ngàn ha là yêu cầu tất yếu".
Theo ông Dư, vụ hè thu 2011, CĐML được thực hiện tại 12 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL và tỉnh Tây Ninh với những thành công ban đầu rất thuyết phục. Theo đó, lợi nhuận tăng thêm so với khu vực sản xuất ngoài mô hình đạt từ 2,5 - 3 triệu đồng/ha. Cá biệt, có tỉnh như Trà Vinh, lợi nhuận tăng thêm đạt đến 7,5 triệu/ha, nâng tổng lợi nhuận bình quân đạt mức 26 - 27 triệu đồng/ha.
Trong khi giá thành sản xuất giảm nhiều do nông dân sử dụng đồng nhất 1 - 2 loại giống cấp xác nhận I hoặc cấp xác nhận II trên cùng một cánh đồng, áp dụng phương pháp sạ hàng, lượng giống gieo chỉ từ 100 - 120kg/ha so với mức thông thường từ 130kg/ha. Ngoài ra, chi phí phân bón giảm từ 480.000 đồng/ha, thuốc BVTV giảm 110.000 đồng/ha.
Đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu
Một đặc điểm của sản xuất lúa hàng hóa ở ĐBSCL là phần lớn hộ nông dân khi thu hoạch lúa thường bán ngay cho thương lái. Nếu có phơi khô cũng bán đến 95% sản lượng lúa, rất ít hộ giữ lúa tại nhà với thời gian trên 1 tháng/vụ. Việc này khiến nông dân thường bị thương lái ép giá, tranh mua nguyên liệu…
Tham gia mô hình CĐML, Công ty Angimex vừa cung ứng giống, phân bón cho nông dân vừa thu mua lúa với giá cao hơn giá thị trường từ 200 - 300 đồng/kg. Còn Công ty cổ phần BVTV An Giang lại giúp nông dân vận chuyển, sấy và lưu kho trong thời gian 30 ngày. Những mô hình liên kết này bước đầu hình thành các mô hình khép kín từ sản xuất đến thu mua, có sự liên kết của nhiều đơn vị tổ chức sản xuất và tiêu thụ.
"Xưa nay DN chỉ thu mua lúa theo cách "chộp giật". Nông dân vì cần vốn quay vòng cho vụ tiếp theo mà phải bóp bụng bán lúa ép giá. Khi liên kết hỗ trợ nông dân sản xuất lúa, chúng tôi được đảm bảo về nguồn hàng cho xuất khẩu, cả về số lượng và chất lượng" - ông Huỳnh Văn Thòn - Chủ tịch HĐQT Công ty BVTV An Giang chia sẻ.
CĐML là một cải tiến vượt bậc của ngành nông nghiệp, thể hiện trách nhiệm xã hội với nông dân của DN. Cần có quy hoạch cụ thể cùng sự tự nguyện tham gia của các DN để duy trì và nhân rộng mô hình này.
Thứ trưởng Bộ NNPTNT 
Bùi Bá Bổng
Đồng quan điểm trên, ông Phạm Văn Dư nhấn mạnh: "Không thể hình thành thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam nếu không có vùng sản xuất đủ tiêu chuẩn, CĐML từng bước giúp nông dân sản xuất theo đơn đặt hàng và theo kế hoạch cụ thể". Vẫn theo ông Dư, Việt Nam hiện có 210 DN tham gia xuất khẩu gạo, nếu mỗi DN xây dựng cho mình vùng nguyên liệu rộng 10.000ha thì sẽ có ít nhất 210.000ha sản xuất lúa nguyên liệu, chiếm khoảng 12,7% diện tích canh tác.
Trước những hiệu quả ban đầu trên, mô hình CĐML được nhân rộng ra trên diện tích khoảng 20.000ha trong vụ đông xuân 2012, hướng tới việc hình thành vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu sản xuất theo chuẩn VietGAP. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tập hợp nông dân cũng như kêu gọi DN tham gia vào mô hình cần giải quyết.

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Lúa gạo Việt Nam: Năng suất cao, tổn thất lớn

LUAGAO - Lúa gạo Việt Nam: Năng suất cao, tổn thất lớn

Lúa gạo Việt Nam có giống tốt, năng suất thuộc loại cao nhất thế giới, nhưng tổn thất sau thu hoạch lớn gấp 2-3 lần so với Ấn Độ, Nhật Bản…

Đó là nhận định chung tại các cuộc hội thảo khoa học trong khuôn khổ Festival Lúa gạo Việt Nam lần hai ở tỉnh Sóc Trăng (từ ngày 8 đến 11-11).

Lúa ở nhiều địa phương ĐBSCL đạt năng suất bình quân 7 tấn/ha/vụ, được cho là cao nhất thế giới. Đặc biệt, giống OM6976 được đưa vào khảo nghiệm ở nhiều tỉnh ĐBSCL đạt năng suất 9-11 tấn/ha/vụ mà Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống-Sản phẩm cây trồng vùng Nam Bộ đánh giá “có thể coi là sự đột phá về năng suất”.

Trong 3 năm từ 2008 đến 2011, ở ĐBSCL, có hàng trăm giống lúa lai tạo từ các cơ sở nghiên cứu đưa ra khảo nghiệm và đã được phép sản xuất đại trà 31 giống, sản xuất thử 48 giống. Ước tính, diện tích sản xuất giống mới mỗi năm đạt 600.000 – 800.000 ha.

Trong đó, khoảng 90% giống lúa đến từ Viện Lúa ĐBSCL và nơi đây đã chọn được những giống lúa ngắn ngày giàu chất sắt, kháng sâu bệnh và năng suất cao, thích nghi vùng nhiễm phèn mặn. Viện Nghiên cứu Duyên hải Nam Trung Bộ có giống chịu hạn, trồng ở Tây Nguyên đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ; trồng ở Nam Trung Bộ đạt 6,5 tấn/ha/vụ.

Thành công trong công tác giống còn phải kể đến việc phổ biến rộng rãi cho nông dân với chủ trương khuyến khích cộng đồng làm giống. Hạt giống đầu dòng từ các cơ sở nghiên cứu chỉ đáp ứng 3 – 5% diện tích gieo trồng, nhưng ở tỉnh An Giang, 90% diện tích gieo sạ sử dụng giống tương đương xác nhận, nhờ hàng trăm tổ và hộ nông dân sản xuất giống.

Mất hơn 10.000 tỷ đồng/năm

TS Phạm Văn Tấn ở Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho biết, ĐBSCL có mức tổn thất sau thu hoạch lên tới 13,7%, trong khi Ấn Độ có tỷ lệ 6%, Nhật Bản 3,9-5,6%. Tổn thất lớn ở 2 công đoạn: sấy 4,2% và tồn trữ 2,6%.

Tổng sản lượng lúa của ĐBSCL năm 2011 là 23 triệu tấn; tổn thất ở hai khâu này là gần 1,6 triệu tấn. Với giá 7.000 đồng/kg, số tiền mất là hơn 10.000 tỷ đồng.

Tổn thất từ sấy còn dẫn tới tổn thất trong xay xát ở mức cao 3%. Lúa không được sấy đúng kỹ thuật, không đạt độ ẩm cần thiết 13-14% nên khi xay xát, hạt gạo nguyên và trắng thu được rất thấp. Một nghiên cứu của Đại học Nông lâm TPHCM cho thấy, lúa có độ ẩm 14% khi xay xát sẽ được 50% gạo nguyên, nhưng nếu độ ẩm 16% thì gạo nguyên chỉ còn 34%. Hiện nay, lúa sấy đúng kỹ thuật của ĐBSCL chỉ khoảng 38% tổng sản lượng.

TS Tấn cho biết, quy trình công nghệ sau thu hoạch ở ĐBSCL hiện nay là quy trình ngược. Lúa thu hoạch xong được nông dân và thương lái phơi sấy sơ qua, đem bán cho doanh nghiệp xay xát, lau bóng, khi đã thành gạo rồi mới tiếp tục sấy đến độ ẩm 14% để đóng bao tiêu thụ. Tình trạng này kéo dài có nguyên nhân ở công nghệ sấy lúa lạc hậu.

ĐBSCL sử dụng lò sấy tĩnh vỉ ngang và sấy đứng, không thể sấy được lúa có độ ẩm trên 30%, mà hầu hết lúa hè thu ở ĐBSCL có độ ẩm rất cao lại cần sấy trong thời gian ngắn vì gieo sạ đồng loạt để tránh rầy và thu hoạch trong mùa mưa. TS Tấn đề nghị “cần công nghệ sấy lúa mới”.

Theo nhiều chuyên gia, cần tổ chức lại chuỗi cung ứng sau thu hoạch thật gọn và hiệu quả. Trong đó, huấn luyện cũng như đầu tư cho nông dân và thương lái để họ có khả năng sấy lúa đến độ ẩm 18-25% là rất quan trọng, sau đó doanh nghiệp sấy tiếp đạt độ ẩm 14% trước khi đưa vào xay xát.

Theo: 24h.com.vn

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

VFA không muốn chia nhỏ “chiếc bánh” xuất khẩu gạo

VFA không muốn chia nhỏ “chiếc bánh” xuất khẩu gạo
Gạo Việt Nam đang có lợi thế trên thị trường thế giới.
LUAGAO - Trước việc hiện đã có 130 DN được cấp phép xuất khẩu gạo theo Nghị định 109 và hàng loạt DN khác vẫn tiếp tục nộp đơn, ông Phạm Văn Bảy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN (VFA) - cho rằng “miếng bánh” xuất khẩu gạo có giới hạn.

VFA muốn có điểm dừng chứ để tăng tới 200-300 DN thì giống như TPHCM, đông xe quá dẫn tới kẹt... Tuy nhiên, nếu “hãm” lại thì trật quy định luật pháp...

“Miếng bánh” quá... ngon

Theo tính toán của VFA, xuất gạo cả năm 2011 này sẽ vượt qua mốc 7 triệu tấn, thu về hơn 3 tỉ USD (năm 2010 cả nước xuất khẩu 6,89 triệu tấn gạo, thu về 3,25 tỉ USD).

Đáng lưu ý, theo VFA, trong 9 tháng vừa qua, giá xuất khẩu bình quân FOB đạt trên 520USD/tấn - tăng hơn 133USD/tấn so với cùng kỳ. Dù giá tăng nhưng từ nay đến cuối năm, giá lúa gạo khó mà tụt xuống, thậm chí sẽ có lợi cho cả quý I/2012. Bởi thị trường xuất khẩu biến động theo chiều hướng thuận lợi cho Việt Nam. Cụ thể, thị trường hiện đã hình thành 2 cấp. Một là nhu cầu gạo cấp thấp, giá rẻ với nguồn cung từ Ấn Độ. Hai là nhu cầu gạo cao cấp, giá cao từ Thái Lan, Việt Nam.

Với gạo cấp cao Thái Lan - nước tác động lớn đến giá gạo thế giới - áp dụng chính sách hỗ trợ nâng giá lúa sẽ khiến giá gạo tăng cao - đạt mức 750 - 800USD/tấn. Điều này chưa hẳn được nhiều nước nhập khẩu chấp nhận, bởi những nước này đa phần đang chịu lạm phát. Khả năng các nước đổ sang tìm nguồn cung từ Việt Nam là điều dễ nhận thấy. Với thị trường gạo cấp thấp, trung bình, Ấn Độ là nước cạnh tranh gay gắt với Việt Nam. Hiện Ấn Độ đã công bố bán 2 triệu tấn gạo ra thị trường thế giới. “Với sản lượng này thì Ấn Độ chưa đủ làm giảm nhiệt giá gạo, trừ khi họ tuyên bố bán nhiều hơn. Nhưng theo dự đoán của chúng tôi thì Ấn Độ khó có khả năng này, vì phải tăng cường chính sách ANLT” - ông Bảy cho biết.

Trong khi đó, Việt Nam ngoài việc có thể cạnh tranh thị phần gạo cấp cao với Thái Lan trong lúc họ biến động, thì có thể giành được cả thị trường gạo cấp thấp và trung bình ở gần địa giới, bởi cước vận chuyển thấp, chất lượng và nguồn hàng ổn định hơn Ấn Độ.

VFA không muốn chia nhỏ “chiếc bánh” xuất khẩu gạo, Thị trường - Tiêu dùng, gia gao, xuat khau gao, gao viet nam, VFA, kinh te, bao

VFA không muốn chia nhỏ “chiếc bánh” xuất khẩu gạo.

Bất ngờ ngoài toan tính

Bên cạnh sự khấp khởi, VFA lại đang dấy lên nỗi “băn khoăn”, khi đến thời điểm này, đã có 125 DN được Bộ Công Thương cấp phép đủ điều kiện xuất khẩu gạo theo Nghị định 109, chưa kể 4 DN liên doanh với nước ngoài. Đáng lưu ý, trong số đó có 29 DN chưa bao giờ xuất khẩu gạo, đa phần làm ngành nghề khác, nhưng trước “miếng bánh” xuất khẩu gạo đã góp vốn liên kết với DN có kho chứa đáp ứng các điều kiện theo Nghị định 109.

Nhiều DN khác vẫn tiếp tục củng cố năng lực và nộp hồ sơ đăng ký xuất khẩu gạo. Thực tế này làm bất ngờ nhiều người. Bởi mục tiêu của Nghị định 109 là loại bỏ những DN nhỏ lẻ, không đủ năng lực, không đầu tư kho bãi, đầu tư cho nông dân nhưng mua bán “chụp giật” phá giá, gây hỗn loạn thị trường, làm ảnh hưởng uy tín gạo Việt Nam. Khi nghị định “hình hài”, VFA từng tin rằng với những quy định chặt chẽ đòi hỏi DN phải có vốn rất lớn thì sẽ chỉ còn dưới 100/262 DN đang xuất khẩu gạo.

Nên ngoài 125 DN đã được cấp phép, trước việc các DN tiếp tục nộp hồ sơ, ông Bảy đã không giấu giếm toan tính của VFA: “Quan điểm của VFA là phải có điểm dừng. Chứ lên tới 200-300 DN xuất khẩu gạo, lượng gạo có giới hạn. Nếu miếng bánh cứ chia nhỏ, mỗi DN chia nhau ít gạo để xuất thì sẽ càng làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Giống như tình trạng xe cộ ở TPHCM, phải tính toán lượng dân cư, đường sá để quy định bao nhiều đầu xe là vừa. Chứ vô đông quá, tắc đường thì hại nhiều hơn lợi!” - ông Bảy nói.

Tuy nhiên, nếu “người ta” tìm cách hãm và không cho DN đủ điều kiện đăng ký xuất khẩu gạo, lại vi phạm Luật DN và các quy định khác của pháp luật. Nên các cơ quan chức năng hiện đang loay hoay tìm giải pháp.

Theo: 24h.com.vn

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Cây lúa thời hội nhập

LUAGAO - Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.

Sản xuất lúa theo hướng GAP là yêu cầu tất yếu của thời đại. Nhưng nhân tố giá cả, chất lượng, thương hiệu… có ý nghĩa quyết định trong sự cạnh tranh, điều kiện then chốt, sống còn cho việc sản xuất. PGS. TS. Mai Thành Phụng (ảnh) là một nhà khoa học, thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đã có nhiều tham luận đóng góp cho các diễn đàn về cây lúa.

- Thưa PGS, xin ông cho biết có những yêu cầu nào để nông dân có thể đưa được lúa gạo của mình ra thị trường nước ngoài cạnh tranh?

PGS. MTP: Nông dân cá thể, nông dân bình thường khó có thể trực tiếp đưa sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Như vậy để có thể đưa sản phẩm ra nước ngoài nông dân cần: Liên kết tổ chức sản xuất, liên hệ với đầu ra ký kết hợp đồng trước khi sản xuất. Cần lưu ý: sản phẩm phải đạt chất lượng, có độ đồng đều cao và bảo đản đủ số lượng để cung cấp cho bên mua đúng hợp đồng đã ký kết. Nông dân sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt được doanh nghiệp đầu ra chấp nhận thu mua và xuất khẩu.

- Ông có yêu cầu quan tâm hơn nữa chất lượng lúa gạo, vậy phải làm gì để đạt được yêu cầu này?

PGS. MTP: Chất lượng lúa gạo phụ thuộc: đặc điểm giống, quy trình canh tác 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, thực hành nông nghiệp tốt, thu hoạch đúng độ chín, tăng cường các biện pháp bảo vệ hạt lúa sau thu hoạch (phơi, sấy, tồn trữ, bảo quản), công nghệ chế biến, xay xát và bảo quản, tồn trữ hạt gạo. Như vậy cần phải làm các việc sau: 1/ Cần xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất và hạ tầng cho vùng sản xuất lúa (theo quy hoạch), tăng cường liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo. 2/ Tăng cường công tác nghiên cứu và xác định cơ cấu giống lúa phù hợp cho từng vùng sinh thái, có phương án sản xuất, nhân giống, cung ứng giống hợp lý (xã hội hóa công tác giống) để có thể đưa giống tốt ra sản xuất ngày càng cao. 3/ Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và khuyến nông trên cây lúa. 4/ Tăng cường cơ giới hóa (tất cả các khâu sản xuất lúa), đặc biệt là khâu thu hoạch, sấy lúa, bảo quản hạt lúa. 5/ Triển khai nhanh chương trình sản xuất lúa theo Viet GAP và nhà nước có chính sách hỗ trợ để thực hiện chương trình này.

- Còn hạ giá thành, thực tiễn phải làm gì?

PGS. MTP: Nông dân không ngừng học hỏi và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trên cây lúa, nông dân liên kết sản xuất để có thể áp dụng các TBKT như 3G3T, 1P5G, cơ giới hóa và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp đầu vào (cung ứng giống, phân bón, thuốc BVTV, dịch vụ làm đất, tưới nước…) và doanh nghiệp đầu ra (bao tiêu sản phẩm).

- Giải pháp cho việc thu hoạch và sau thu hoạch rõ, nhưng vướng chỗ nào, ta thực hiện không đúng được các giải pháp?

PGS. MTP: Việc áp dụng máy gặt đập thu hoạch lúa trong các năm qua đã làm tốt. Số lượng máy GDLH đã tăng rất nhanh ở DBSCL từ 497 máy (7/2007) đến nay (7/2011) là trên 6.500 máy và có thể tiếp tục tăng nhưng theo tôi là chưa bền vững. Giải pháp sắp tới đề xuất: (i) nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp máy GDLH trong nước; (ii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ gặt đập liên hợp; (iii) có chính sách cho vay vốn hỗ trợ lãi suât mua máy GDLH; (iv) có chính sách đẩy mạnh đầu tư cho công tác nghiên cứu về cơ giới hóa trong sản xuất lúa. Về sấy, hiện nay có 6.500 lò sấy quy chuẩn (4t mẻ) là trên 9.000 lò sấy đáp ứng khoảng 30% sản lượng lúa vụ Hè Thu ở ĐBSCL. Giải pháp sắp tới: (i) doanh nghiệp thu mua lúa, xuất khẩu gạo cần có vùng nguyên liệu và liên kết với kho tàng, máy sấy, tồn trữ, bảo quản lúa; (ii) có chính sách thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất ra các máy sấy thích hợp; (iii) có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp làm dịch vụ sấy lúa; (iv) cho vay vốn hỗ trợ lãi suất cho nông hộ mua máy sấy .

- “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, theo ông diễn đàn Nông nghiệp nên tập trung những vấn đề nào?

PGS. MTP: (i) Thông tin về triển vọng và giá cả, thị trường xuất khẩu gạo của VN trong năm 2011 và các năm sắp tới; (ii) Các chính sách về bảo hiểm nông nghiệp, bình ổn giá cả cho lúa gạo; (iii) Thông tin về các TBKT mới nhất ứng dụng trên cây lúa đặc biệt là các giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu; (iv) Thông tin về chính sách của nhà nước về quy hoạch, sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, vay vốn tín dụng, hỗ trợ sản xuất; (v) chương trình hỗ trợ sản xuất lúa theo Việt GAP và một số thành tựu của mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất – tiêu thụ lúa gạo.

Xin cám ơn ông!



HUỲNH CÔNG thực hiện (nguồn Báo Nông Nghiệp Việt Nam)